Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 19/4/2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân:ông Đỗ Văn Long và bà Nguyễn Thị Bích.

-Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: bà Ngô Thị Vân Anh - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 19/4/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 25/2024/TLST-HNGĐ ngày 23/01/2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXX-ST ngày 16/02/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2024/QĐ-ST ngày 18/3/2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: chị Vũ Thị H, sinh năm: 1994 (vắng mặt)

Nơi đăng ký thường trú: thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

+Người đại diện theo ủy quyền nhận các văn bản tố tụng của chị Vũ Thị H là bà Giáp Thị V-Luật sư thuộc văn phòng luật sư Kim Vĩnh A-Đoàn luật sư tỉnh B.

* Bị đơn: anh Nguyễn Văn T, sinh năm: 1989 (vắng mặt)

Địa chỉ: thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Hiện đang lao động tại nước ngoài không rõ địa chỉ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai ngày 19/01/2024, nguyên đơn là chị Vũ Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn với nhau năm 2016 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu yêu thương nhau và có đăng ký kết hôn ngày 16/11/2016 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị về gia đình anh T chung sống, cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc và có 02 con chung. Do cuộc sống khó khăn nên vợ chồng có thống nhất để anh T đi lao động tại nước ngoài để phát triển kinh tế gia đình. Đến giữa năm 2018 anh T làm thủ tục đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, thời gian đầu vợ chồng vẫn thường xuyên nói chuyện với nhau, sau đó phát sinh mâu thuẫn không nói chuyện với nhau nữa, anh T không về nước mặc dù chị đã khuyên can để về cùng nhau nuôi dậy con cái nhưng anh T không đồng ý. Hai vợ chồng đã được hai bên gia đình nội ngoại khuyên nhủ nhưng vợ chồng không thể hòa hợp được. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

Về con chung: vợ chồng chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Tuệ L, sinh ngày 18/10/2017 và cháu Nguyễn Tiến M, sinh ngày 03/12/2020. Hiện nay các cháu vẫn đang ở với chị. Ly hôn chị đề nghị được nuôi dưỡng cả 2 con chung và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ chung: vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra chị H còn trình bày: hiện nay, anh T vẫn ở nước ngoài, địa chỉ cụ thể của anh T ở nước ngoài chị không cung cấp được cho Tòa án được vì đã lâu chị không liên lạc được với anh T, anh T vẫn liên lạc về cho anh trai anh T là anh Nguyễn Bá T1, sinh năm 1983, trú tại: thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đề nghị Tòa án xác minh địa chỉ của anh T thông qua anh trai của anh T.

Do tính chất công việc nên chị không tham gia phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa chị và anh T được. Vì vậy, chị đề nghị được vắng mặt trong phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, trong các phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa chị và anh Nguyễn Văn T.

Chị cũng ủy quyền cho bà Giáp Thị V- Luật sư thuộc văn phòng luật sư Kim Vĩnh A- Đoàn luật sư tỉnh B nộp đơn khởi kiện, tạm ứng án phí, nhận bản án, trích lục và các văn bản tố tụng của Tòa án giao cho chị và thông báo lại cho chị biết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn T đang lao động tại nước ngoài không có địa chỉ cụ thể, Tòa án đã làm việc thông qua người thân và yêu cầu thông báo cho anh T gửi bản tự khai về Tòa án, nhưng từ đó đến nay Tòa án không nhận được bản tự khai của anh T.

Tòa án đã tiến hành làm việc với anh Nguyễn Bá T1 là anh trai của anh Nguyễn Văn T được anh T1 cung cấp như sau: anh là anh trai của anh Nguyễn Văn T, hiện nay anh Nguyễn Văn T là em anh đang đi lao động tại nước ngoài, không có mặt tại địa phương, em anh vẫn thường xuyên liên lạc về cho anh qua điện thoại và mạng xã hội, về địa chỉ của anh T ở nước ngoài anh không biết và không cung cấp cho Tòa án được, gia đình đã nhận được văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho anh T biết, anh T thông tin lại như sau:

Về việc chị H xin ly hôn anh T thì quan điểm của anh T là đồng ý ly hôn với chị H.

Về con chung: anh T và chị H có 02 con chung là cháu Nguyễn Tuệ L, sinh ngày 18/10/2017 và cháu Nguyễn Tiến M, sinh ngày 03/12/2020. Ly hôn thì quan điểm của anh T và gia đình là giao cho mỗi người nuôi một con chung, cụ thể giao cháu Nguyễn Tiến M, sinh ngày 03/12/2020 cho anh T nuôi dưỡng và giao cháu Nguyễn Tuệ L, sinh ngày 18/10/2017 cho chị H nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con anh T không có ý kiến gì.

Về tài sản chung, công nợ: không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai các cháu Nguyễn Tuệ L trình bày: cháu là con của bố Nguyễn Văn T và mẹ Vũ Thị H, hiện nay cháu đang ở cùng với mẹ là Vũ Thị H. Nếu bố mẹ cháu ly hôn thì nguyện vọng của cháu là được ở với mẹ là Vũ Thị Hà

Tại phiên tòa nguyên đơn chị Vũ Thị H vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Văn T vắng mặt không có lý do.

Thay mặt Hội đồng xét xử thông qua đơn khởi kiện, bản tự khai của chị H; Biên bản làm việc với anh trai của anh T là anh Nguyễn Bá T1; biên bản lấy lời khai của cháu Nguyễn Tuệ L và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn chị Vũ Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn anh Nguyễn Văn T không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với anh T; Căn cứ vào công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao xử vắng mặt anh T là đúng.

-Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, 53, 56; Điều 81, 82, 83 và khoản 2 Điều 123; Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273; Điều 150; khoản 2 Điều 479 BLTTDS; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị H.

Về hôn nhân: cho chị Vũ Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

Về nuôi con chung: giao con chung là cháu Nguyễn Tuệ L, sinh ngày 18/10/2017 và cháu Nguyễn Tiến M, sinh ngày 03/12/2020 cho chị Vũ Thị H là người trực tiếp nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra do chị H không yêu cầu. Anh Nguyễn Văn T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này.

Về án phí: chị Vũ Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: chị Vũ Thị H là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt chị Vũ Thị H.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa: Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành làm việc với anh trai của anh T là anh Nguyễn Bá T1 để giao thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu anh T1 thông báo cho anh T biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Văn T; Yêu cầu anh T viết bản tự khai, lời khai về cho Tòa án; Yêu cầu anh T1 cung cấp địa chỉ cụ thể của anh T ở nước ngoài. Anh Nguyễn Bá T1 trình bày: anh T ở nước ngoài vẫn thường xuyên liên lạc về cho anh. Tuy nhiên, anh T1 vẫn không cung cấp địa chỉ, tin tức của anh T ở nước ngoài cho Tòa án biết. Nhận thấy đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ vào Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao; khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Văn T theo thủ tục chung.

[2].Về thẩm quyền: chị Vũ Thị H là nguyên đơn có đơn xin ly hôn anh Nguyễn Văn T, anh T hiện đang lao động tại nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ (theo Công văn số 1967/QLXNC-P3 ngày 25/01/2024 của Cục Q1-Bộ C), thì anh T đã xuất nhập cảnh 07 lần, lần xuất cảnh gần nhất là ngày 15/10/2023 hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước, địa chỉ cuối cùng của anh T ở Việt Nam là: thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Như vậy, đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình có đương sự ở nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3]. Về Hôn nhân: chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Văn T có đăng ký kết hôn ngày 16/11/2016 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang, được Ủy ban nhân dân xã B cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng chị H và anh T phát sinh mâu thuẫn, chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị H đối với anh Nguyễn Văn T. Hội đồng xét xử thấy: sau khi kết hôn anh T và chị H chung sống với nhau hạnh phúc và có 02 con chung. Do cuộc sống khó khăn nên năm 2018 thì anh T đi nước ngoài lao động, kể từ đó vợ chồng ít khi liên lạc với nhau, không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Xét thấy tình cảm giữa chị H và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị H. Xử cho chị Vũ Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

[4]. Về con chung: chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Văn T có 02 con chung là cháu Nguyễn Tuệ L, sinh ngày 18/10/2017 và cháu Nguyễn Tiến M, sinh ngày 03/12/2020. Ly hôn chị H đề nghị được nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con cho chị.

Xét yêu cầu nuôi con chung của chị Vũ Thị H: Hội đồng xét xử thấy hiện nay anh T đang lao động tại nước ngoài không thể trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Anh Nguyễn Văn T từ khi đi nước ngoài thì các cháu Nguyễn Tuệ L và cháu Nguyễn Tiến M vẫn ở với chị H. Nay chị H có đề nghị được nuôi cả hai con chung và cháu Nguyễn Tuệ L cũng có nguyện vọng được ở với chị H, để cho các con ổn định, tránh xáo trộn cuộc sống nên cần giao hai cháu cho chị Vũ Thị H là người trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chung. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu của chị H về nuôi con chung. Giao cho chị Vũ Thị H là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Nguyễn Tuệ L, sinh ngày 18/10/2017 và cháu Nguyễn Tiến M, sinh ngày 03/12/2020 đến khi các con chung đủ 18 tuổi là phù hợp với điều kiện thực tế cũng như quyền và lợi ích về mọi mặt của con chung. Sau khi ly hôn anh Nguyễn Văn T có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: do chị Vũ Thị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] .Về tài sản, công nợ: chị Vũ Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6]. Về án phí: chị Vũ Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

[7]. Về quyền kháng cáo: các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 81; 82; 83 và khoản 2 Điều 123; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; khoản 3 điều 153; Điều 271; Điều 273; khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:

1.Về hôn nhân: cho chị Vũ Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

2.Về con chung: giao cho chị Vũ Thị H là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Nguyễn Tuệ L, sinh ngày 18/10/2017 và cháu Nguyễn Tiến M, sinh ngày 03/12/2020 đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Anh Nguyễn Văn T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này.

3.Về án phí: chị Vũ Thị H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001013 ngày 23/01/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Vũ Thị H đã nộp đủ.

4.Về quyền kháng cáo bản án: Chị Vũ Thị H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

Anh Nguyễn Văn T hiện đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa có thời hạn kháng cáo Bản án là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • -TAND cấp cao tại Hà Nội
  • -Cổng thông tin điện tử TANDTC
  • -VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • -Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • -UBND xã Bảo Đài, huyện Lục
  • Nam, Bắc Giang
  • -Các đương sự;
  • -Lưu hồ sơ vụ án;
  • -Lưu Tổ HCTР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 106/2024/HNGĐ-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 106/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: * Nguyên đơn: chị Vũ Thị H, sinh năm: 1994 (vắng mặt) Nơi đăng ký thường trú: thôn Đông, xã Bảo Đài, huyện L, tỉnh B. +Người đại diện theo ủy quyền nhận các văn bản tố tụng của chị Vũ Thị H là bà Giáp Thị Vân-Luật sư thuộc văn phòng luật sư Kim Vĩnh An-Đoàn luật sư tỉnh Bắc Giang. * Bị đơn: anh Nguyễn Văn T, sinh năm: 1989 (vắng mặt)Địa chỉ: thôn Đông, xã Bảo Đài, huyện L, tỉnh B. Hiện đang lao động tại nước ngoài không rõ địa chỉ.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger