TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 106/2024/HNGĐ-ST Ngày 19/4/2024 Về việc: “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ngô Thanh Ngọc Cảnh;
2. Bà Dương Triết Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 76/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Trần Phương D, sinh năm 1968;
Địa chỉ: Khóm P, thị trấn P huyện T, tỉnh An Giang. (Xin vắng mặt).
* Bị đơn: Bà Lầu Thị Q, sinh năm 1972;
Địa chỉ: Khóm P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang. (Xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Trần Phương D trình bày như sau:
Ông và bà Lầu Thị Q quen nhau do mai mối, chung sống với nhau năm 1989, hôn nhân lần thứ nhất của cả hai, có tổ chức đám cưới nhưng không có đăng ký kết hôn. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do tính tình không còn phù hợp, vợ chồng thường xuyên cự cải, cuộc sống không hạnh phúc. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên ông yêu cầu được ly hôn với bà Lầu Thị Q; Về con chung: Vợ chồng ông bà có 02 con chung tên Trần Văn P, sinh năm 1992 và Trần Phương N, sinh ngày 01/01/1998, hiện đã trưởng thành và có khả năng lao động; Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết; Về nợ chung: Không có.
Do ông và bà Q đã thỏa thuận được với nhau về việc chấm dứt quan hệ hôn nhân nên xin được vắng mặt khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
* Lời khai của bị đơn bà Lầu Thị Q trong quá trình giải quyết vụ án như sau: Bà và ông Trần Phương D quen nhau do mai mối, chung sống với nhau năm 1989, hôn nhân lần thứ nhất của cả hai, có tổ chức đám cưới nhưng không có đăng ký kết hôn. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do ông D thường xuyên nhắn tin tình cảm qua lại với người phụ nữ khác nên vợ chồng thường xuyên cự cải, cuộc sống không hạnh phúc. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà đồng ý ly hôn với ông Trần Phương D; Về con chung: Vợ chồng ông bà có 02 con chung tên Trần Văn P, sinh năm 1992 và Trần Phương N, sinh ngày 01/01/1998, hiện đã trưởng thành và có khả năng lao động; Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết. Về nợ chung: Không có.
Do bà và ông D đã thỏa thuận được với nhau về việc chấm dứt quan hệ hôn nhân nên xin được vắng mặt khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
* Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của người tham gia tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 9, 14, 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 tuyên. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Trần Phương D và bà Lầu Thị Q. Về con chung: Không xem xét. Tài sản chung và nợ chung: Không xem xét. Ông D yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Ông Trần Phương D khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Lầu Thị Q có nơi cư trú tại khóm P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông D và bà Q có yêu cầu đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông D và bà Q là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Về hôn nhân: Ông D và bà Q chung sống với nhau từ năm 1989 nhưng đến nay vẫn không tiến hành đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Nay do mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn nên ông D yêu cầu được ly hôn với bà Q. Do hôn nhân giữa ông D và bà Q vi phạm Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình về đăng ký kết hôn nên Hội đồng xét xử không xem xét mâu thuẫn trong hôn nhân mà căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 14 và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông D và bà Q.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, giữa ông D và bà Q có 02 con chung tên Trần Văn P, sinh năm 1992 và Trần Phương N, sinh năm 1998, hiện đã trưởng thành và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về quan hệ tài sản chung: Ông D và bà Q tự thỏa thuận với nhau nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông D và bà Q trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Lời phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về nội dung giải quyết vụ án là phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Ông D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí ông D đã nộp.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Các Điều 9, 14 và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Trần Phương D và bà Lầu Thị Q.
- Về con chung: Không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
- Về án phí sơ thẩm: Ông Trần Phương D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013641 ngày 27 tháng 02 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Ông D và bà Q được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Mai Thị Vân |
Bản án số 106/2024/HNGĐ-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 106/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không công nhận ông D và bà Q là vợ chồng
