Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SƠN DƯƠNG

TỈNH TUYÊN QUANG

Bản án số: 106/2024/HS-ST

Ngày: 18/9/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Hữu Lượng
  2. Ông Ma Quốc Thể

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Ông Ngô Xuân Tho - Kiểm sát viên.

Ngày 18/9/2024, tại điểm cầu trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang và điểm cầu thành phần phòng xét xử Trại tạm giam Công an tỉnh T, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 110/2024/TLST-HS, ngày 28 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2024/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Đỗ Văn H, sinh ngày 27/10/1987 tại tỉnh Tuyên Quang; nơi cư trú: Tổ E, phường Ỷ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Cao T, sinh năm 1959 và bà Bùi Thị M, sinh năm 1958; vợ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1991 (đã ly hôn); con: Có 01 con, sinh năm 2007; A, chị, em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ hai.

* Tiền án:

  • Bản án số 113/2012/HSST ngày 24/10/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang xử phạt Đỗ Văn H 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/3/2016;
  • Bản án số 68/2016/HSST ngày 19/8/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang xử phạt Đỗ Văn H 01 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/12/2017;
  • Bản án số 55/2018/HSST ngày 13/6/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang xử phạt Đỗ Văn H 02 năm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/11/2019;
  • Bản án số 02/2021/HSST ngày 08/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xử phạt Đỗ Văn H 03 năm 02 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/01/2024 (Đã áp dụng tình tiết định khung Tái phạm nguy hiểm).

* Tiền sự:

  • Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 12/QĐ-XPHC ngày 28/01/2024 của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh T đối với Đỗ Văn H về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức phạt chính, phạt tiền 1.500.000 đồng.

* Nhân thân:

  • Bản án số 42/HSST ngày 18/8/2004 của Tòa án nhân dân thị xã Tuyên Quang xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Bản án số 78/PTHS ngày 27/9/2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 06 tháng tù tại bản án số 42/HSST ngày 18/8/2004 của Tòa án nhân dân thị xã Tuyên Quang, buộc phải chấp hành hình phạt chung là 12 tháng tù;
  • Bản án số 17/2008/HSST ngày 03/3/2008 của Tòa án nhân dân thị xã Tuyên Quang xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Quyết định số 39/QĐ-UBND ngày 18/7/2011 của Ủy ban nhân dân phường Ỷ, thành phố T về việc đưa người nghiện vào giáo dục và cai nghiện tại cộng đồng đối với Đỗ Văn H, thời hạn 02 tháng;
  • Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 39/QĐ-XPHC ngày 29/3/2016 của Công an phường H, thành phố T đối với Đỗ Văn H về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức phạt tiền 750.000 đồng;
  • Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 128/QĐ-XPHC ngày 01/6/2016 của Công an thành phố T đối với Đỗ Văn H về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức phạt tiền 500.000 đồng;
  • Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 11/QĐ-XPHC ngày 05/02/2018 của Công an tỉnh T xử phạt Đỗ Văn H bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy;
  • Quyết định số 36/QĐ-UBND ngày 07/4/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Ỷ về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại phường đối với Đỗ Văn H về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn 03 tháng;
  • Quyết định xử phạt số 00024/QĐ-XPHC ngày 10/4/2020 của Công an phường Ỷ1, thành phố T, xử phạt Đỗ Văn H 1.000.000đ về hành vi trộm cắp tài sản;
  • Quyết định số 15/2020/QĐ-TA ngày 12/8/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Văn H, thời hạn 18 tháng;
  • Quyết định số 002210 ngày 01/3/2021 của Công an phường M, thành phố T về việc ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với D, hình thức phạt tiền, mức phạt 750.000 đồng.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt).

2. Nguyễn Mạnh D, sinh ngày 01/7/1983 tại thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; nơi cư trú: Tổ H, phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V (đã chết) và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1961; vợ: Phạm Thị N1, sinh năm 1987 (đã ly hôn); con: Có 02 con, đều sinh năm 2017; A, chị, em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ nhất.

* Tiền án:

  • Bản án số 114/2021/HSST ngày 15/9/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Nguyễn Mạnh D 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Bản án số 63/2021/HSST ngày 17/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Mạnh D 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/9/2023 (Giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt số 1147 ngày 09/9/2023 của hai bản án 114 và 63).

* Tiền sự: không.

* Nhân thân:

  • Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 87 ngày 11/9/1999 của Công an thị xã T đối với Nguyễn Mạnh D về hành vi đánh nhau, hình thức phạt 50.000 đồng. D đã nộp phạt ngày 17/9/1999;
  • Quyết định số 88/QĐ-CT ngày 05/12/2004 của Ủy ban nhân dân phường M về việc người được đưa vào giáo dục và cai nghiện ma túy tại nơi cư trú đối với Nguyễn Mạnh D, thời gian 02 tháng;
  • Quyết định số 70/QĐ-CT ngày 07/02/2005 của Ủy ban nhân dân thị xã T về việc đưa người nghiện ma túy vào cai nghiện ma túy bắt buộc (cai giai đoạn II) tại Công trường số 6, thị xã T đối với D, thời gian từ 12 đến 24 tháng. Ngày 25/01/2006 Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã T ra quyết định đưa về cai nghiện ma túy giai đoạn III tại xã phường tại nơi cư trú. Ngày 06/02/2010 Nguyễn Mạnh D được công nhận hoàn thành cai nghiện ma túy;
  • Quyết định số 75/QĐ-CT ngày 01/6/2011 của Ủy ban nhân dân phường M về việc đưa người nghiện ma túy vào cai nghiện tại cộng đồng đối với Nguyễn Mạnh D, thời gian 60 ngày;
  • Quyết định số 3369/QĐ-CT ngày 30/8/2011 của Ủy ban nhân dân thành phố T về việc đưa người nghiện ma túy vào cai nghiện ma túy bắt buộc (giai đoạn II) tại Công trường số 6, thành phố T đối với D, thời gian từ 12 đến 24 tháng. Ngày 06/8/2013 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T ra Quyết định đưa về cai nghiện ma túy giai đoạn III tại nơi cư trú. Ngày 12/12/2013 Nguyễn Mạnh D kết thúc cai nghiện giai đoạn 3;
  • Quyết định số 45/QĐ-UBND ngày 23/3/2018 của Ủy ban nhân dân phường M, thành phố T đối với Nguyễn Mạnh D về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại phường về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn 06 tháng. Ngày 24/9/2018 D chấp hành xong thời hạn giáo dục tại phường;
  • Quyết đinh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 29/2018/QĐ-TA ngày 07/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang đối với Nguyễn Mạnh D, thời hạn chấp hành 12 tháng. Ngày 18/11/2019 D đã chấp hành xong.
  • Quyết định số 002210 ngày 01/3/2021 của Công an phường M, thành phố T về việc ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với D, hình thức phạt tiền, mức phạt 750.000 đồng.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 26/5/2024, Đỗ Văn H rủ Nguyễn Mạnh D đến thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, mục đích mua ma tuý về để sử dụng và bán kiếm lời. D đồng ý và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave &, màu trắng đen, biển số 22B1 - 542.11 (xe của Vũ Mạnh H1, trú tại tổ A, phường T, thành phố T) đến đón H. Khoảng 13 giờ cùng ngày D chở H đến khu vực đầu cầu G thuộc thành phố T, thì D để H điều khiển xe, khi cách cầu G khoảng 500m thì H dừng lại và bảo D đứng đợi ở ngoài. H đi bộ vào trong ngõ khoảng 100m thì gặp và mua của một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ được 09 gói ma túy (trong đó 08 gói được gói bằng giấy bạc màu vàng, 01 gói được gói bằng giấy bạc màu trắng) với số tiền 6.000.000 đồng, tiền của H, D không góp tiền vào mua chung. Sau khi mua được ma túy H cất giấu trên người và đi ra chỗ D để về, trên đường về D và H dừng lại 02 lần ở khu vực vắng người thuộc thành phố T, lấy một phần ma tuý trong các gói vừa mua được ra sử dụng bằng hình thức tiêm chích vào cơ thể. Sau khi sử dụng xong thì H điều khiển xe chở D về đến khu vực đầu cầu S thuộc thị trấn S, huyện S thì gặp Tổ công tác công an thị trấn S đang làm nhiệm vụ phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 15 giờ 30 phút cùng ngày, thu giữ của của Đỗ Văn H 09 gói (trong đó 08 gói được gói bằng giấy màu vàng, 01 gói được gói bằng giấy màu trắng; bên trong đều chứa chất bột vón cục màu trắng), H khai nhận là H2 mục đích mua để bán kiếm lời.

Kết luận giám định số 737/KL-KTHS ngày 30/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Số chất bột vón cục màu trắng thu giữ của Đỗ Văn HNguyễn Mạnh D gửi đi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng 4,472g (Bốn phẩy bốn bảy hai gam).

Kết quả xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể đối với Đỗ Văn HNguyễn Mạnh D (+) dương tính với ma túy.

Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã tạm giữ: 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt trước ghi “Tang vật vụ Đỗ Văn HNguyễn Mạnh D giám định ngày 27/5/2024” và 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO màu vàng, bên trong có lắp sim viettell số 0985.194.xxx, máy cũ đã qua sử dụng, của Đỗ Văn H; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave &, màu trắng đen, biển kiểm soát 22B1-542.11. Ngày 20/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã trả lại cho Vũ Mạnh H1 là chủ sở hữu hợp pháp.

Cáo trạng số 112/CT-VKSSD, ngày 27/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố Đỗ Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Nguyễn Mạnh D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với Đỗ Văn H, Nguyễn Mạnh D và đề nghị:

Tuyên bố: Các bị cáo Đỗ Văn H, Nguyễn Mạnh D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy.

Về hình phạt:

  • Áp dụng: Điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Văn H từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (26/5/2024).
  • Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh D từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (26/5/2024).

Do các bị cáo không có tài sản có giá trị lớn nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt trước ghi “Tang vật vụ Đỗ Văn HNguyễn Mạnh D giám định ngày 27/5/2024”.
  • Trả lại bị cáo Đỗ Văn H 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO màu vàng, bên trong có lắp sim viettell số 0985.194.xxx, máy cũ đã qua sử dụng, nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.

Về án phí, quyền kháng cáo: Buộc các bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để các bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.

Về tội danh: Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa; căn cứ vào Biên bản khám xét, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 15 giờ 30 phút ngày 26/5/2024 tại khu vực đầu cầu S thuộc Tổ dân phố Q, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Đỗ Văn HNguyễn Mạnh D, đã có hành vi tàng trữ 4,472g (Bốn phẩy bốn bảy hai gam) chất ma tuý, loại Heroine. Mục đích để sử dụng và bán kiếm lời.

Bản thân bị cáo Đỗ Văn H là người đã nhiều lần bị xử phạt về hành vi trộm cắp, tàng trữ ma túy, đã tái phạm chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục cố ý thực hiện hành vi phạm tội (Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2021/HSST ngày 08/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 03 năm 02 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã áp dụng tình tiết định khung là tái phạm nguy hiểm. Ngày 01/01/2024 chấp hành xong hình phạt tù).

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố Đỗ Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm q (tái phạm nguy hiểm) khoản 2 Điều 251 BLHS; bị cáo Nguyễn Mạnh D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS là hoàn toàn đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bản thân các bị cáo đã nhiều lần bị xử phạt về cùng loại tội liên quan đến ma túy, không lấy đó làm bài học để cải tạo mình mà tiếp tục phạm tội. Do vậy, cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để răn đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

Trong vụ án này các bị cáo thực hiện với vai trò đồng phạm giản đơn. Bị cáo H là người rủ bị cáo D đi mua ma túy về để sử dụng và để bán, bị cáo D là người điều khiển xe mô tô đưa bị cáo H đi mua ma túy và cùng nhau sử dụng 02 lần.

[3] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với các bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Đỗ Văn H tái phạm nguy hiểm nhưng đã lấy làm tình tiết định tội nên không áp dụng làm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo Nguyễn Mạnh D là người có tiền án, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS cần áp dụng cho các bị cáo.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo trong mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị như vậy là phù hợp.

Quá trình điều tra xác định các bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[4] Về vật chứng:

  • Đối với 01 phong bì đã niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa ma túy (đã giám định), đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong, Đỗ Văn HNguyễn Mạnh D; mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Đỗ Văn HNguyễn Mạnh D giám định ngày 27/5/2024”. Đây là vật chứng của vụ án thuộc danh mục Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • 01 điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A17K, màu vàng, bên trong lắp sim số 0985.194.698, máy cũ đã qua sử dụng, là phương tiện liên lạc hàng ngày của bị cáo nên không tịch thu mà trả lại cho bị cáo Đỗ Văn H. Nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave &, màu trắng đen, biển kiểm soát 22B1-542.11. Ngày 20/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã trả lại cho Vũ Mạnh H1 là chủ sở hữu hợp pháp, do vậy HĐXX không xem xét.

[5] Các vấn đề khác:

  • Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo H tại khu vực thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra xử lý.
  • Về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đỗ Văn HNguyễn Mạnh D, Cơ quan CSĐT Công an huyện S đã chuyển tài liệu liên quan đến Công an thành phố T, tỉnh Thái Nguyên để xử lý vi phạm hành chính theo quy định.
  • Anh Vũ Mạnh H1 khi cho bị cáo D mượn xe mô tô, không biết bị cáo dùng để đi mua ma túy, nên không đề cập xử lý.

Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[7] Về án phí và quyền kháng cáo bản án:

Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 251; Điều 51; Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Các Điều 106, 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Tuyên bố Các bị cáo Đỗ Văn HNguyễn Mạnh D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

  1. Về hình phạt:
    1. Căn cứ điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự:
    2. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (26/5/2024).

    3. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự:
    4. Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh D 04 (bốn) năm (06) sáu tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (26/5/2024).

  2. Về vật chứng:
    • Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đã niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa ma túy (đã giám định), đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong, Đỗ Văn HNguyễn Mạnh D; mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Đỗ Văn HNguyễn Mạnh D giám định ngày 27/5/2024".
    • Trả lại cho bị cáo Đỗ Văn H 01 điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A17K, màu vàng, bên trong lắp sim số 0985.194.698, máy cũ đã qua sử dụng, nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.
    • (Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương)

  3. Về án phí và quyền kháng cáo:
    • Các bị cáo Đỗ Văn H, Nguyễn Mạnh D mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;
    • Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Ma Quốc Thể - Trần Hữu Lượng

Hoàng Thị Minh Khánh

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh TQ;
  • - Sở tư pháp tỉnh TQ;
  • - VKSND huyện Sơn Dương;
  • - CQ CSĐT Công an huyện SD;
  • - Chi cục T.H.A dân sự huyện SD;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Minh Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 106/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 106/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồi 15 giờ 30 phút ngày 26/5/2024 tại khu vực đầu cầu S thuộc Tổ dân phố Q, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Đỗ Văn H và Nguyễn Mạnh D, đã có hành vi tàng trữ 4,472g (Bốn phẩy bốn bảy hai gam) chất ma tuý, loại Heroine. Mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Bản thân bị cáo Đỗ Văn H là người đã nhiều lần bị xử phạt về hành vi trộm cắp, tàng trữ ma túy, đã tái phạm chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục cố ý thực hiện hành vi phạm tội (Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2021/HSST ngày 08/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 03 năm 02 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã áp dụng tình tiết định khung là tái phạm nguy hiểm. Ngày 01/01/2024 chấp hành xong hình phạt tù).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger