|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 106/2023/HSST |
Ngày: 18-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thúy Nga và ông Lê Xuân Nghĩa.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phan Nguyễn Thành Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Tới - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2023 tại Phòng xét xử A - Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 111/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 07 năm 2023, thông báo về việc thay đổi lịch xét xử số 451/TB-TA ngày 27/7/2023 đối với bị cáo:
1/ Nguyễn Tâm T1, sinh năm 1983, tại Thừa Thiên Huế (có mặt)
Hộ khẩu thường trú: khu phố 4, phường Long Bình, Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Phóng viên Tạp chí văn hóa doanh nghiệp Việt Nam; T1 độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Minh Tâm (đã chết) và bà Bùi Thị Thanh, sinh năm 1960; vợ: Ngô Thị Len, sinh năm 1988; con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không.
* Về nhân thân:
Ngày 20/6/2009, bị Công an thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai khởi tố về tội “Cố ý gây thương tích” đến ngày 17/9/2009, được Đình chỉ điều tra bị can.
Bị bắt ngày 22/02/2023 và đang bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Định Quán cho đến nay.
2/ Nguyễn Văn T2, sinh năm 1981, tại Thừa Thiên Huế (có mặt)
Hộ khẩu thường trú: khu phố 5, phường Long Bình, Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Cộng tác viên Tạp chí văn hóa doanh nghiệp Việt Nam; T1 độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Xê, sinh năm 1952 và bà Lê Thị Đắc, sinh năm 1953; vợ: Đỗ Thị Hoàng Nguyên, sinh năm 1982; con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 22/02/2023 và đang bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Định Quán cho đến nay.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thanh Đ, sinh năm: 1978 (vắng mặt)
Địa chỉ: khu phố Hiệp Tâm 2, thị trấn Định Quán, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Ông Nguyễn Long H, sinh năm: 1984; Trụ sở nơi làm việc: UBND xã Phú Lợi, huyện Định Quán. (vắng mặt)
- + Bà Ngô Thị L, sinh năm: 1988 (có mặt)
- Địa chỉ: 101/105 Hoàng Bá Bích, khu phố 4, phường Long Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Tâm T1 là Phóng viên và Nguyễn Văn T2 là Cộng tác viên Tạp chí văn hóa doanh nghiệp Việt Nam.
Vào khoảng 09 giờ ngày 22/02/2023, tại quán cà phê “Xưa” thuộc khu phố Hiệp Tâm 1, thị trấn Định Quán, huyện Định Quán, Công an huyện Định Quán phối hợp Công an thị trấn Định Quán bắt quả tang Nguyễn Tâm T1 và Nguyễn Văn T2 đang có hành vi nhận số tiền 10.000.000 đồng của chị Nguyễn Thanh Đ - sinh năm: 1978, trú tại: khu phố Hiệp Tâm 2, thị trấn Định Quán, huyện Định Quán.
Quá T1 điều tra, xác định: Ngày 27/9/2022, Uỷ ban nhân dân huyện Định Quán có văn bản số 4892/UBND-NL về việc cho phép ông Nình A D, sinh năm: 1967, trú tại: ấp 3, xã Phú Lợi được cải tạo thửa đất số 06, tờ bản đồ 34, diện tích 2000 m2 tại ấp 5, xã Phú Lợi. Sau khi được cấp phép, ngày 26/10/2022 ông Dưỡng thuê chị Nguyễn Thanh Đ đục đá, cải tạo thửa đất. Do thửa đất có nhiều đá tảng to, nên sau khi được thuê cải tạo đất, chị Đ thuê thêm một số nhân công khác để đục nhỏ đá cho chủ đất.
Vào ngày 13/02/2023, do số lượng đá đục dư ra nhiều nên chị Đ thuê 01 xe tải ben vận chuyển số đất đá dư ra giáp ranh cho chủ đất làm hàng rào. Đến khoảng hơn 10 giờ cùng ngày, T1 và T2 đi đến thửa đất chị Đ đang được thuê cải tạo để xác minh tin báo của nhân dân về việc có đối tượng khai thác đá trái phép. Khi đến nơi, T1 và T2 phát hiện có sự việc nhiều người đang đục đá và có 01 xe tải ben đang vận chuyển đá nên T1 và T2 nghĩ chủ thửa đất đang có hành vi khai thác khoáng sản trái phép. Để có bằng chứng, T2 dùng điện thại hiệu Iphone 11 Promax của T2 quay lại cảnh xe tải ben đang vận chuyển đá.
Vì biết tâm lý của người vi phạm sợ bị viết lên báo nên T1 và T2 xin được số điện thoại của bà Đ, T1 điện thoại hẹn gặp chị Đ mục đích để yêu cầu chị Đ phải đưa một số tiền để T1 và T2 bỏ qua, không phản ánh sai phạm của chị Đ. Để hợp thức hóa việc lấy tiền, khi gặp chị Đ, T1 và T2 đề nghị chị Đ hỗ trợ một số tiền để viết bài báo mang tính chất tuyên truyền cho xã Phú Lợi, không liên quan đến hành vi vi phạm của chị Đ. Chị Đ hỏi bao nhiêu tiền thì T2 lấy ra 01 bảng giá thông tin tuyên truyền đưa cho T1 để T1 đưa cho chị Đ xem, chị Đ xem được số cuối là 20.000.000 đồng. Vì số tiền lớn nên chị Đ nói không có khả năng thì T1 đề nghị chị Đ suy nghĩ lại và thông báo cho T1 sau. Ngay sau khi gặp chị Đ, để hợp thức hóa việc nhận tiền T1 và T2 đến Ủy ban nhân dân xã Phú Lợi, gặp ông Nguyễn Long H – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Phú Lợi đề nghị ông H ký hợp đồng thông tin tuyên truyền với Tạp chí Văn hóa Doanh nghiệp Việt Nam để viết bài có nội dung tuyên truyền cho địa phương. Sau khi ký được hợp đồng, T1 điện thoại cho chị Đ hối thúc đưa tiền. Do không có tiền nên chị Đ xin được đưa số tiền 7.000.000 đồng nhưng T1 không đồng ý và yêu cầu phải đưa đủ 10.000.000 đồng. Vì đục đá là công việc làm ăn của gia đình chị Đ và nhiều nhân công khác và sợ bị lên báo sẽ ảnh hưởng đến công việc làm ăn, uy tín của gia đình nên chị Đ phải đồng ý đưa số tiền trên và hẹn khi nào lo đủ tiền sẽ liên hệ để đưa cho T1 và T2. Để lấy được tiền, từ ngày 13/02/2023 T1 liên tục sử dụng 01 điện thoại Iphone 12 Promax, số sim 0908550009 gọi điện, nhắn tin cho chị Đ để hối thúc đưa tiền. Quá T1 trao đổi qua điện thoại, chị Đ đã ghi âm lại và làm đơn tố cáo gửi Công an huyện Định Quán.
Toàn bộ quá T1 phát hiện vi phạm, hợp đồng thông tin tuyên truyền ký với Ủy ban nhân dân xã Phú Lợi T1 và T2 không báo cáo lãnh đạo Tạp chí Văn hóa Doanh nghiệp Việt Nam. Ngày 22/02/2023, T1 và T2 không xây dựng kế hoạch công tác, không báo cáo lãnh đạo và cùng nhau điều khiển xe ô tô biển số 51G - 974.79 từ thành phố Biên Hòa đến huyện Định Quán để gặp chị Đ lấy tiền. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, T1 và T2 đến quán quán cà phê “Xưa” thuộc khu phố Hiệp Tâm 1, thị trấn Định Quán lấy số tiền 10.000.000 đồng của chị Đ. Sau khi lấy tiền, T1 đưa hợp đồng thông tin tuyên truyền giữa Tạp chí Văn hóa Doanh nghiệp Việt Nam với Ủy ban nhân dân xã Phú Lợi và ghi thêm vào phía sau bản hợp đồng với nội dung “chị Nguyễn Thanh Đ, chịu chi phí hợp đồng này”. Ngay lúc này, Nguyễn Tâm T1 và Nguyễn Văn T2 bị bắt quả tang cùng tang vật.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Định Quán, Nguyễn Tâm T1 và Nguyễn Văn T2 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.
* Vật chứng vụ án:
- - Số tiền 10.000.000 đồng.
- - 01 hợp đồng thông tin truyên truyền giữa UBND xã Phú Lợi và Tạp chí Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam ký ngày 13/02/2023, phần cuối hợp đồng có dòng chữ “chị Nguyễn Thanh Đ, chịu chi phí hợp đồng này”.
- - 01 bảng giá thông tin truyên truyền trên tạp chí Tài nguyên và môi trường.
- - 01 Giấy chứng nhận Phóng viên của Tạp chí Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam cấp cho Nguyễn Tâm T1.
- - 01 Giấy chứng nhận Cộng tác viên của Tạp chí Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam cấp cho Nguyễn Văn T2.
- - 01 điện thoại Iphone 11 Promax, số máy MWL72LL/A, số sim 0907813968 của Nguyễn Văn T2.
- - 01 điện thoại Iphone 12 Promax, số máy MG9T3LL/A, số sim 0908550009 của Nguyễn Tâm T1.
- - 01 xe ô tô biển số 51G.-.974.79.
- - 01 USB lưu trữ 07 file ghi âm các cuộc hội thoại giữa Nguyễn Tâm T1 và Nguyễn Thanh Đ.
Trị giá tài sản thiệt hại: Số tiền 10.000.000 đồng.
Theo cáo trạng số 74/CT-VKSĐQ ngày 15/06/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố bị cáo Nguyễn Tâm T1, Nguyễn Văn T2 về tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1, Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Tâm T1 mức án từ 01 năm 02 tháng tù đến 01 năm 04 tháng tù, xử phạt Nguyễn Hữu T2 từ 01 năm tù đến 01 năm 02 tháng tù. về tội “ Cưỡng đoạt tài sản".
Vật chứng: Bị hại đã nhận tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo T1, T2 thừa nhận hành vi cưỡng đoạt tài sản, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tội danh: Ngày 13/02/2023, sau khi phát hiện chị Nguyễn Thanh Đ có dấu hiệu vi phạm trong việc đục đá, cải tạo đất ở ấp 5, xã Phú Lợi, Nguyễn Tâm T1 và Nguyễn Văn T2 lợi dụng là Phóng viên và Cộng tác viên Tạp chí văn hóa doanh nghiệp Việt Nam đã dùng điện thoại quay lại cảnh xe chở đá trong khu vực dục đá. Sau đó, T1 và T2 gọi điện thoại de dọa sẽ đưa lên báo nhằm uy hiếp tinh thần chị Đ để chiếm đoạt tài sản. Do lo sợ nên chị Đ đã đồng ý đưa cho T1 và T2 số tiền 10.000.0000 đồng để được T1 và T2 bỏ qua lỗi vi phạm.
Đến khoảng 09 giờ ngày 22/02/2023, tại quán cà phê “Xưa” thuộc khu phố Hiệp Tâm 1, thị trấn Định Quán, huyện Định Quán, khi Nguyễn Tâm T1 và Nguyễn Văn T2 vừa nhận số tiền 10.000.000 đồng của chị Nguyễn Thanh Đ thì bị bắt quả tang cùng tang vật.
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ, phù hợp với lời khai của bị hại, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, biên bản đối chất, biên bản hỏi cung bị can. Như vậy đủ cơ sở kết luận hành vi của Nguyễn Tâm T1, Nguyễn Văn T2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản” được quy định tại điểm khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Viện kiểm sát đã viện dẫn và truy tố là đúng người đúng tội.
[2] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá T1 điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thể hiện rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tài sản đã thu hồi trao trả cho chủ sở hữu và bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Ngoài ra bị cáo T2 là người có nhân thân tốt, các bị cáo chưa có tiền án tiền sự, có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, đang nuôi con nhỏ. Bị cáo T1 gia đình có công với cách mạng có ông ngoại là liệt sỹ, bị cáo T2 gia đình có công với cách mạng, có em ruột ông nội là liệt sỹ, bà nội được tặng huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng ba, mẹ ruột được tặng huy chương chống Mỹ hạng nhì. Các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo T1, T2 được quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Căn cứ quyết định hình phạt: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần phải có mức án đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo có ý thức chấp hành nghiêm pháp luật của Nhà nước và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Do các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như trên nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ 01 phần phạt cho các bị cáo thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước. Đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn, để đánh giá vai trò của từng bị cáo nhằm cá thể hóa hình phạt như sau: T1 là người khởi xướng, rủ rê và thực hành tích cực cùng với Nguyễn Văn T2 trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. T1 là người có nhân thân xấu nên mức hình phạt của T1 phải cao hơn T2, riêng bị cáo T2 cho bị cáo được hưởng mức án đầu khung hình phạt cũng đủ răn đe giáo dục.
[5] Về vật chứng vụ án:
Đối với số tiền 10.000.000 đồng, thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thanh Đ, hiện đã trao trả cho chị Đ, chị Đ đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về vấn đề khác:
Đối với 01 hợp đồng thông tin truyên truyền giữa Uỷ ban nhân dân xã Phú Lợi và Tạp chí Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam ký ngày 13/02/2023, phần cuối hợp đồng có dòng chữ “chị Nguyễn Thanh Đ, chịu chi phí hợp đồng này”; 01 bảng giá thông tin truyên truyền trên tạp chí Tài nguyên và môi trường; 01 Giấy chứng nhận Phóng viên của Tạp chí Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam cấp cho Nguyễn Tâm T1; 01 Giấy chứng nhận Cộng tác viên của Tạp chí Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam cấp cho Nguyễn Văn T2. Là công cụ sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên lưu giữ cùng hồ sơ vụ án.
Đối với 01 USB lưu trữ 07 file ghi âm các cuộc hội thoại giữa Nguyễn Tâm T1 và Nguyễn Thanh Đ do chị Đ cung cấp, 01 usb lưu trữ file video mà T2 quay bãi đá nên lưu giữ cùng hồ sơ vụ án.
Đối với 01 điện thoại Iphone 11 Promax, số máy MWL72LL/A, số sim 0907813968 của Nguyễn Văn T2 và 01 điện thoại Iphone 12 Promax, số máy MG9T3LL/A, số sim 0908550009 của Nguyễn Tâm T1. Là công cụ sử dụng vào mục đích phạm tội nên tịch thu, sung quỹ Nhà nước.
Đối với xe ô tô biển số 51G.-.974.79, thuộc sở hữu của chị Ngô Thị L, sinh năm 1988, trú tại: khu phố 4, phường Long Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (là vợ Nguyễn Tâm T1). Quá T1 điều tra, xác định: Ngày 22/3/2023, khi Nguyễn Tâm T1 sử dụng xe ô tô trên đến gặp chị Nguyễn Thanh Đ để nhận tiền thì chị L không biết. Hiện, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị L.
Đối với lời khai của Nguyễn Tâm T1 và Nguyễn Văn T2 về việc sau khi phát hiện sai phạm của chị Nguyễn Thị Đ, T1 và T2 có thông báo cho ông Nguyễn Long H biết và nhờ ông H tác động thêm để chị Đ đồng ý đưa tiền. Tuy nhiên, quá T1 điều tra, ông Hùng không thừa nhận sự việc trên và chị Đ cũng khai nhận ông Hùng không liên lạc với chị Đ để tác động việc chị Đ đưa tiền cho T1 và T2. Do đó, không đủ căn cứ để xử lý đối với ông Nguyễn Long H.
Đối với việc chị Nguyễn Thanh Đ thuê xe tải ben vận chuyển đá trong phạm vi diện tích được cho phép cải tạo, không vận chuyển ra ngoài nên không có căn cứ để xử lý về hành khai thác khoáng sản trái phép.
Ngày 27/02/2023, Cơ quan điều tra tiến hành ghi lời khai Nguyễn Tâm T1 và Nguyễn Văn T2, có tiến hành tổ chức ghi hình có âm thanh để xác nhận lại các nội dung T1 và T2 khai báo. 02 đoạn video ghi hình có âm thanh được thu giữ và lưu trữ trong 01 USB nên lưu giữ cùng hồ sơ vụ án.
[7] Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Định Quán, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán: Trong quá T1 điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, T1 tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá T1 điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Kiến nghị đến UBND huyện Định Quán về trách nhiệm của UBND xã Phú Lợi khi ký hợp đồng thông tin tuyên truyền với Tạp chí văn hóa doanh nghiệp Việt Nam.
Kiến nghị đến Bộ thông tin và Truyền thông cùng Ban tuyên giáo Trung ương là cơ quan chủ quản của Tạp chí văn hóa doanh nghiệp Việt Nam về việc ký sẵn các hợp đồng thông tin tuyên truyền mà cho rằng đúng với quy chế và để xảy ra sai phạm tại địa bàn xã Phú Lợi, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[9] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 2, Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- - Điểm a, khoản 1, Điều 23 của Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- - Áp dụng: Khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tâm T1, Nguyễn Văn T2 phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
1.1 Xử phạt bị cáo Nguyễn Tâm T1 01(một) năm 02(hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/02/2023.
1.2 Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 01(một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/02/2023.
Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
2. Vật chứng:
- - Tịch thu, lưu giữ cùng hồ sơ vụ án: 01 hợp đồng thông tin truyên truyền giữa UBND xã Phú Lợi và Tạp chí Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam ký ngày 13/02/2023, phần cuối hợp đồng có dòng chữ “chị Nguyễn Thanh Đ, chịu chi phí hợp đồng này”; 01 bảng giá thông tin truyên truyền trên tạp chí Tài nguyên và môi trường; 01 Giấy chứng nhận Phóng viên của Tạp chí Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam cấp cho Nguyễn Tâm T1; 01 Giấy chứng nhận Cộng tác viên của Tạp chí Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam cấp cho Nguyễn Văn T2; 01 USB lưu trữ 07 file ghi âm các cuộc hội thoại giữa Nguyễn Tâm T1 và Nguyễn Thanh Đ; 01 USB lưu giữ 02 video ghi hình có âm thanh quá T1 ghi lời khai Nguyễn Tâm T1 và Nguyễn Văn T2, 01 usb lưu trữ file video mà T2 quay bãi đá.
- - Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại Iphone 11 Promax, số máy MWL72LL/A, số sim 0907813968 của Nguyễn Văn T2 và 01 điện thoại Iphone 12 Promax, số máy MG9T3LL/A, số sim 0908550009 của Nguyễn Tâm T1 theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Định Quán.
3. Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
4. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo T1, T2 và bà Len biết, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại chị Đ, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hùng vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Lan |
Bản án số 106/2023/HSST ngày 18/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về cưỡng đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 106/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cưỡng đoạt tài sản
