Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2024/HSST

Ngày: 18 - 7 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN - TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Cúc
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông: Trương Văn Bắc
    2. Ông: Quản Giang Thao
  • - Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lữ Thị Hải Vân – Thư ký TAND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
  • - Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Kim Duy C - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường xét xử TAND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 91/2024/HSST ngày 03 tháng 7 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2024/QĐXX- ST, ngày 03 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Cao Văn T; Sinh năm 1986; Quê quán: tại phường H, thị xã N, Thanh Hóa; Hộ khẩu thường trú: TDP C, phường H, thị xã N, Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông: Cao Văn N – Đã chết; Con bà: Nguyễn Thị C1 - sinh năm 1959; Tiền án: Ngày 25/5/2022, bị TAND thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận xử phạt 24 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; Tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2010, bị Chủ tịch UBND thị xã L, tỉnh Bình Thuận áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng.

- Năm 2011, bị Chủ tịch UBND tỉnh B áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục trong thời hạn 24 tháng.

- Năm 2017, bị Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng.

- Năm 2021, bị Công an thị xã L, tỉnh Bình Thuận xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.

Bị cáo tạm giữ từ ngày 10/4/2024 đến ngày 16/4/2024 bị áp dụng biện pháp tạm giam cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Mai Văn K – sinh năm 1988 – vắng mặt

Địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện H, Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 08h00' ngày 10/4/2024, Tổ công tác thuộc Ban C2 phối hợp với Công an xã H làm nhiệm vụ tuần tra tại thôn H, xã H, thị xã N đã tiến hành kiểm tra hành chính đối với Cao Văn T, sinh năm 1986, trú tại tổ dân phố C, phường H, thị xã N. Qua kiểm tra, Tổ công tác phát hiện trên tay phải của T đang cầm 01 túi nilon màu trắng, viền màu đỏ, loại có khóa zip, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy). Khai thác tại chỗ, T khai nhận, chất tinh thể màu trắng bên trong túi nilon trên là ma túy đá, T mang theo người để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Cao Văn T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; thu giữ, niêm phong số ma túy (Kí hiệu M1); thu giữ điện thoại di động của Cao Văn T để phục vụ công tác điều tra (BL 36-37).

Kết luận giám định số 1476/KL-KTHS ngày 11/4/2024, Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Chất tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong kí hiệu M1 gửi giám định là ma túy, tổng khối lượng 1,458 gam, loại: Methamphetamine (BL 50).

Tiến hành kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3S màu đỏ, lắp sim số thuê bao 0337.179.536 thu giữ của Cao Văn T khi bắt quả tang, Cơ quan điều tra phát hiện trong lịch sử cuộc gọi đi của điện thoại có cuộc gọi đến số thuê bao 0355.611.870 vào hồi 15h38'49’” ngày 07/4/2024, Cơ quan điều tra đã in sao lịch sử cuộc gọi của điện thoại đưa vào hồ sơ vụ án và niêm phong lại để bảo quản vật chứng theo quy định (BL 64, 69).

Tiến hành khám xét tại nơi ở của Cao Văn T nhưng không thu giữ được tài liệu, vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Quá trình điều tra, Cao Văn T đã thành khẩn khai báo hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bản thân như đã nêu trên. Lời khai của bị can phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với lời khai của người chứng kiến, người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết quả giám định ma túy cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ xác định T đã tàng trữ trái phép 1,458 gam ma túy, loại Methamphetamine.

Về nguồn gốc ma túy, T khai số ma tuy này trước đó vào chiều ngày 07/4/2024, T sử dụng điện thoại Oppo A3S màu đỏ, lắp sim số thuê bao 0337.179.536 gọi đến số điện thoại 0355.611.xxx của một người tên là “Ba” ở phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận để hỏi 01 túi ma túy đá, thì được B đồng ý bán với giá 1.350.000 đồng và hẹn T đến phường L, thành phố P để lấy ma túy. Khi đến điểm hẹn, T đưa tiền cho B thì được B đưa cho 01 túi ma túy đá. Sau khi mua được ma túy, T bắt xe đi về nhà cất giấu, đến sáng ngày 10/4/2024, T đem số ma túy trên tìm nơi sử dụng. Khi đi đến địa phận thôn H, xã H, thị xã N, thì bị Tổ công tác thuộc Ban C2 phối hợp với Công an xã H phát hiện, bắt quả tang như đã nêu trên (BL 132-133, 137-138).

Cơ quan điều tra tiến hành điều tra, xác minh đối tượng bán ma túy, kết quả trên địa bàn phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận không có đối tượng nào tên B. Xác minh số thuê bao di động 0355.611.870, xác định chủ thuê bao là Chung Thanh T1, sinh năm 1989, trú phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Tuy nhiên, T1 không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được. Tiến hành cho T nhận dạng qua ảnh đối với Chung Thanh T1, T xác định T1 không phải là người bán ma túy cho TT cũng không quen biết người này. Do T khai trong thời gian lao động tự do tại thành phố P, T có quen và biết số điện thoại của người tên Ba bán ma túy, nhưng T không biết họ tên đầy đủ và địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, mở rộng vụ án (BL 135).

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo nhận tội và không có ý kiến gì về nội dung bản cáo trạng mà VKS ND thị xã N truy tố bị cáo.

Bản cáo trạng số 115/CT-VKSNS ngày 01/7/2024 của VKSND thị xã Nghi Sơn đã truy tố bị cáo Cao Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Tại phiên tòa VKS vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của BLHS

  • - Xử phạt: Cao Văn T từ 27 đến 30 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 10/4/2024.
  • - Về tang vật: Đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy trong vụ án.
  • Đề nghị tịch thu bán xung công điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3s.
  • * Án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định.

Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS, đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:

Căn cứ vào biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Kết luận giám định; lời khai của những người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa khẳng định:

Khoảng 08h00' ngày 10/4/2024, tại thôn H, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, Cao Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép 1,458 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị Tổ công tác của Ban C2 phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của bị cáo Cao Văn T là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm mất trật tự, trị an xã hội trên địa bàn, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS, đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy đủ cơ sở để HĐXX kết luận hành vi của bị cáo đủ các dấu hiệu cấu thành về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

[3]. Xét tính chất vụ án:

Trong những năm qua tình hình về tội phạm ma túy dưới mọi hình thức trong cả nước nói chung và trên địa bàn thị xã N nói riêng ngày càng tăng. Các vụ án ma túy diễn biến ngày càng phức tạp, tình trạng mua bán nhỏ lẻ, tổ chức sử dụng ma túy diễn ra ngày càng nhiều. Bị cáo đủ nhận thức để hiểu được những tác hại do ma túy gây ra và các hành vi về tàng trữ, mua bán, sử dụng, lôi kéo người khác ... đều vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện và thực hiện tới cùng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy, gây nên dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình trật tự an ninh, an toàn xã hội, ảnh hưởng đến lối sống và thuần phong mỹ tục và ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của bị cáo nói riêng cũng như tiếp tay cho những kẻ buôn bán trái phép chất ma túy. Vì vậy cần phải lên cho bị cáo một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của mình.

[4]. Xét nhân thân và trách nhiệm hình sự:

Xét về nhân thân bị cáo HĐXX thấy, bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị áp dụng biện pháp cai nghiện nhưng vẫn không từ bỏ được ma túy. Bản thân bị cáo vừa chấp hành xong hình phạt của bản án số 38/2022/HSST, của TAND Thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận, chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới nên thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

Xét về trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội đã thật thà, thành khẩn khai báo, nhận thức được hành vi phạm tội của bản thân nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra bị cáo thừa nhận bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, bản thân đã nhiều lần bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc nhưng không từ bỏ được việc sử dụng trái phép chất ma túy nên xét thấy cần phải lên cho bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc và cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian sữa chữa bản thân cũng như giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, lại bị áp dụng hình phạt tù vì vậy nghĩ không cần áp dụng khoản 5 Điều 249 BLHS làm hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[5]. Xét về vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy trong vụ án.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3s, gắn sim 0337.179.536 thu giữ của bị cáo. Quá trình điều tra xác định bị cáo sử dụng liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu bán xung công quỹ nhà nước.

Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào: điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 BLHS

- Tuyên bố: Bị cáo Cao Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

- Xử phạt; Cao Văn T 30 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ 10/4/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

- Về vật chứng: Áp dụng: điểm b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 1.363 gam giám định là Methamphetamine.

+ Tịch thu bán xung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động OPPO A3s, màu đỏ, Imei 1: 869347034091756, số Imei 2: 869347034091749, bên trong lắp sim số 0337.179.536, trên sim có ghi dãy số 8984048000913684512.

Hiện toàn bộ số tang vật trên đang được nhập kho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo phiếu NK2024/102 ngày 16/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Án phí: Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và điểm 1 mục I bản danh mục án phí, lệ phí tòa án.

- Bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí HSST.

- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và 333 BL TTHS năm 2015. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành tại Điều 2 Luật THA dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận THA, quyền yêu cầu THA, tự nguyện THA hoặc bị cưỡng chế THA theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật THA dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THA dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND Tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND TX. Nghi Sơn, Thanh Hóa.
  • - Công an TX. Nghi Sơn, Thanh Hóa.
  • - CQ THAHS CATX. Nghi Sơn, Thanh Hóa.
  • - Chi cục THADS TX. Nghi Sơn, Thanh Hóa.
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lương Thị Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 106/2024/HSST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 106/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hoảng 08h00’ ngày 10/4/2024, tại thôn H, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, Cao Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép 1,458 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị Tổ công tác của Ban C2 phát hiện, bắt quả tang.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger