Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 106/2024/HSST

Ngày 17-5-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Cẩm Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thắm;

Bà Nguyễn Kim Lý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Minh Sơn- Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 94/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2024/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Quốc H, sinh năm 1987 tại tỉnh Bình Phước; thường trú tại: Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương; chỗ ở: Ấp H, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; cha tên Nguyễn Quốc V, sinh năm 1960, mẹ tên: Trần Thị L, sinh năm 1960;

Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 16/9/2022, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi thực hiện ngày 05/4/2022, theo Bản án số 146/2022/HSST ngày 16/9/2022. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt ngày 09/02/2023 và chấp hành xong án phí ngày 20/3/2023.

Nhân thân:

- Ngày 11/11/2009, bị cáo bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi thực hiện ngày 09/6/2009, theo Bản án số 177/2009/HSST ngày 11/11/2009. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 11/6/2010 và chấp hành xong án phí ngày 03/01/2010.

- Ngày 25/8/2016, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” đối với hành vi thực hiện ngày 05/01/2016, theo Bản án số 245/2016/HSST ngày 25/8/2016. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt ngày 27/9/2018 và chấp hành xong án phí ngày 24/11/2016.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/9/2023 cho đến nay.

- Bị hại: Ông Nguyễn Xuân N, sinh năm 1991; thường trú tại: Tổ dân phố A, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; chỗ ở hiện tại: Khu dân cư G, đường N, khu phố C, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Nguyễn Trọng Đ, sinh năm 1989; thường trú tại: Thôn Q, khu phố C, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện tại: Khu dân cư G, đường N, khu phố C, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

2. Bà Trần Thị L, sinh năm 1960; địa chỉ: Khu phố C, phường T, thành phố B, Bình Dương; vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt.

3. Ông Nguyễn Thanh D, sinh năm 1998; nơi thường trú: Tổ A, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Cao Hữu V1, sinh năm 1989; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Quốc H là đối tượng nghiện ma túy (Heroin) và không có nghề nghiệp. Bị cáo có 01 tiền án bị xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành án xong ngày 09/02/2023. H sống cùng gia đình tại ấp H, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương.

Khoảng 08 giờ ngày 28/9/2023, bị cáo đang ở nhà thì nảy sinh ý định đi tìm tài sản trộm cắp đem bán lấy tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng nên đã điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Kazu, biển số 61N4-8437 đến thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương tìm tài sản không người trông coi để trộm cắp. Khoảng 08 giờ 25 phút cùng ngày, khi đi đến Khu dân cư G, cạnh đường Q, thuộc khu phố C, phường M, thị xã (nay là thành phố) B, bị cáo điều khiển xe đi vào bên trong tìm tài sản. Khoảng 05 phút sau, bị cáo phát hiện cửa nhà để kho vật tư của ông Nguyễn Xuân N cạnh đường D không khóa cửa, không có người trông coi nên dừng xe, xuống đi bộ vào bên trong kho lén lút lấy được 86 khung sắt (trọng lượng 34kg) đem ra chất lên xe mô tô biển số 61N4-8437. Vừa lúc này, ông Cao Hữu V1 là hàng xóm của ông N phát hiện tri hô cùng người dân bắt giữ bị cáo cùng tang vật, giao cho Công an phường M xử lý. Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã (nay là thành phố) B giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ và đã xử lý: 86 khung sắt loại Ø6 hình vuông, kích thước 25cm x 45cm (trọng lượng 34kg); 01 xe mô tô biển số 61N4-8437, đã trả lại cho N, bà L.

Theo Kết luận định giá tài sản ngày 05/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã (nay là thành phố) B, kết luận: 86 khung sắt loại Ø6 hình vuông, kích thước 25cm x 45cm (trọng lượng 34kg) trị giá 408.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Xuân N đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.

Tại Cơ quan điều tra;

Bị cáo H thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như nội dung thể hiện nêu trên.

Bị hại ông Nguyễn Xuân N trình bày: Khoảng 09 giờ 20 phút ngày 28/9/2023 ông được ông Cao Hữu V1 - hàng xóm, thông báo có người đến trộm khung kim loại tại kho để vật tư của ông tại Khu dân cư G, cạnh đường Q, thuộc khu phố C, phường M, thị xã (nay là thành phố) B, người dân bắt giữ và đã gọi điện thoại thông báo cho ông biết. Tài sản ông bị lấy trộm là 86 khung sắt loại Ø6, được bẻ thành hình vuông, có trọng lượng là 34 kg, ông mua để thi công công trình. Số tài sản bị H lấy trộm, ông đã nhận lại, ông không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trọng Đ trình bày: Khoảng 09 giờ 10 phút, ngày 28/9/2023 ông được người dân trong khu dân cư thông báo là tại kho vật tư thuộc Khu dân cư G, cạnh đường Q, thuộc khu phố C, phường M, thị xã (nay là thành phố ) B có đối tượng đến trộm khung sắt – đây là tài sản được ông N nhờ ông trông coi hộ. Khi đến kiểm tra thì tài sản bị H lấy trộm là 86 khung sắt loại Ø6, được bẻ thành hình vuông, có trọng lượng là 34 kg. Nay trong vụ án này ông không có yêu cầu gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị L trình bày: Xe mô tô biển số 61N4-8437 là của bà L mua của ông Nguyễn Thanh D vào năm 2020, khi mua không có làm giấy tờ nhưng ông D có giao giấy tờ xe bản chính cho bà L. Xe do bà trực tiếp quản lý, sử dụng và có cho Hoàng mượn làm phương tiện di chuyển hàng ngày. Việc H sử dụng xe để đi trộm tài sản bà không biết. Nay bà L đã nhận lại xe, bà L không có ý kiến, yêu cầu gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh D trình bày: Xe mô tô biển số 61N4-8437 do ông D mua và đứng tên đăng ký xe. Năm 2020 ông D bán xe trên cho bà L, không có làm giấy mua bán nhưng ông D có giao giấy tờ xe bản chính cho bà L, nên xe là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bà L, ông D không ý kiến.

Người làm chứng ông Cao Hữu V1 trình bày: Khoảng 09 giờ 15 phút, ngày 28/9/2023 khi ông V1 đang sửa chữa nhà tại Lô I, đường D, khu dân cư G, khu phố C, phường M, thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương thì thấy có 1 nam thanh niên điều khiển xe Hon da Wave, màu xanh không rõ biển số đến dừng trước kho vật tư của ông Nguyễn Xuân N, ông V1 nghi ngờ là trộm nên theo dõi. Ông V1 thấy nam thanh niên đi vào trong kho vật tư của ông N và lấy trộm đai sắt vuông Ø6 từ trong kho chất lên xe, thấy vậy ông V1 chạy ra bắt giữ lại và gọi cho ông N, trình báo Công an phường.

Tại Cáo trạng số 109/CT – VKSBC ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Quốc H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa;

- Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Quốc H đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51; điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo H từ 10 tháng đến 12 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra C1 (nay là thành phố) Bến C đã trả cho ông Nguyễn Xuân N 86 khung sắt loại Ø6 hình vuông, kích thước 25cm x 45cm (trọng lượng 34kg) và trả cho bà Trần Thị L xe mô tô biển số 61N4-8437 nên không đặt ra xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường.

- Bị cáo H thống nhất hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố; thống nhất về tội danh, mức hình phạt được thể hiện tại Bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức án nhẹ để bị cáo có cơ hội trở lại xã hội, lao động và thành người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện:

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Quốc H khai nhận:

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 28/9/2023, tại nhà kho để vật tư thuộc Khu dân cư G, cạnh đường Q, khu phố C, phường M, thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương, bị cáo H đã có hành vi lén lút lấy trộm 86 khung sắt loại Ø6 hình vuông, kích thước 25cm x 45cm (trọng lượng 34kg) của ông Nguyễn Xuân N trị giá 408.000 đồng, thì bị bắt giữ cùng vật chứng. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong quá trình điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Xét thấy, bị cáo đã có 01 tiền án, chưa được xóa án tích, nay tiếp tục phạm tội; do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Quốc H đã phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Về tính chất, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tính chất: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo biết rõ việc lấy trộm tài sản của người khác là phạm tội, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản bị lấy trộm đã được trả lại cho bị hại; đây tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Xét thấy, cần phải xử phạt bị cáo với mức án tù, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định, mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, đồng thời mới có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.

[4] Về biện pháp tư pháp:

4.1. Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra C1 (nay là thành phố) Bến C đã trả cho ông Nguyễn Xuân N 86 khung sắt loại Ø6 hình vuông, kích thước 25cm x 45cm (trọng lượng 34kg) và trả cho bà Trần Thị L xe mô tô biển số 61N4-8437 nên không đặt ra xử lý.

4.2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xử lý.

[5] Xét đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với tội danh, điều khoản áp dụng là đúng quy định pháp luật. Đối với mức hình phạt là cao so với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nên Hội đồng xét xử xem xét xử nhẹ hơn mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • - Các Điều 106, 135, 136, 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  • - Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H: 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/9/2023.

2. Về biện pháp tư pháp:

Về xử lý vật chứng: Ông Nguyễn Xuân N đã nhận lại 86 khung sắt loại Ø6 hình vuông, kích thước 25cm x 45cm (trọng lượng 34kg) và bà Trần Thị L đã nhận lại xe mô tô biển số 61N4-8437, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xử lý.

3. Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Quốc H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - Chi cục THADS thành phố Bến Cát;
  • - CQĐT CA thành phố Bến Cát;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Cẩm Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 106/2024/HSST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 106/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger