TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH Bản án số: 106/2024/HSST Ngày 13/5/2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Anh Văn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Tất Phồn.
- Bà Đào Thị Thu.
Thư ký phiên toà: Bà Lê Hà Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Du.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Giang, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 117/2024/HSST ngày 17/5/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2024/QĐXXST-HS ngày 05/6/2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Quang H, sinh năm 1982.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông Nguyễn Nhân H1, đã chết và bà Đỗ Thị L, sinh năm 1951; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 4; Vợ Nguyễn Thị B, sinh năm 1982; Con: có 02 con, sinh năm sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2016.
Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 17/02/2024 đến ngày 22/02/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên toà.
- Phan Khắc H2, sinh năm 1987.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Con ông Phan Khắc T (đã chết) và bà Lại Thị Đ, sinh năm 1961; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; Vợ Nguyễn Thị H3, sinh năm 1990; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2021.
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Bản án số 12 ngày 08/12/2009, Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 tháng về tội “Không tố giác tội phạm” quy định tại khoản 1 Điều 314 Bộ luật hình sự năm 1999. Chấp hành xong toàn bộ bản án.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 17/02/2024 đến ngày 19/02/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên toà.
- Nguyễn Huy Đ1, sinh năm 1987.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông Nguyễn Huy D, sinh năm 1958 và bà Dương Thị N, sinh năm 1960; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ Nguyễn Thị H4, sinh năm 1986; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2016.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Tại Quyết định số 161 ngày 31/11/2010, Công an huyện T xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Hình thức cảnh cáo.
Tại Quyết định số 03 ngày 14/01/2022, Công an huyện T xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc”. Hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng. Đã chấp hành xong ngày 20/4/2022.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 17/02/2024 đến ngày 19/02/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên toà.
- Nguyễn Huy H5, sinh năm 1973.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do; Đoàn thể: Đảng viên; Con ông Nguyễn Huy C, sinh năm 1941 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1947; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ Nguyễn Thị Vân A, sinh năm 1973; Con: 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2005.
Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 17/02/2024 đến ngày 19/02/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên toà.
- Dương Đắc K, sinh năm 1976.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông Dương Đắc H6, đã chết và bà Dương Thị S, đã chết; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ ba; Vợ Nguyễn Thị N1, sinh năm 1981; Con: 03 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2009.
Nhân thân: Tháng 3/2010, tham gia nghĩa vụ quân sự, đóng quân tại Trung đoàn 2, Sư đoàn C5, Quân khu A, đến tháng 8/2011 xuất ngũ về địa phương.
Tiền án, tiền sự: Chưa có;
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 17/02/2024 đến ngày 22/02/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên toà.
- Nguyễn Huy K1, sinh năm 1971.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông Nguyễn Nhân M, đã chết và bà Phan Thị H7, sinh năm 1939; Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ năm; Vợ Nguyễn Thị Đ2, sinh năm 1974; Con: 02 con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 2003.
Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 17/02/2024 đến ngày 19/02/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên toà.
- Nguyễn Nhân D1, sinh năm 1981.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông Nguyễn Nhân L1, sinh năm 1948 và bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1949; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; Vợ Nguyễn Thị H8, sinh năm 1982; Con: 03 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2017.
Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 17/02/2024 đến ngày 19/02/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên toà.
- Nguyễn Hải L2, sinh năm 1994.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông Nguyễn Hữu N3, đã chết và bà Nguyễn Thị L3, sinh năm 1964; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ Nguyễn Thị Thùy L4, sinh năm 2001 (đã ly hôn năm 2022); Con: có 01 con sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 17/02/2024 đến ngày 19/02/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên toà.
- Lại Đắc D2, sinh năm 1975.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông Lại Đắc K2, sinh năm 1944 và bà Dương Thị D3, sinh năm 1944; Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; Vợ Dương Thị M1, sinh năm 1977; Con: có 02 con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2001.
Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Nhân thân: Năm 1997 tham gia quân đội tại tiểu đoàn C, trung đoàn A2, quân đoàn B2 ở thị trấn C, tỉnh Bắc Giang đến năm 1999 xuất ngũ về địa phương.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 17/02/2024 đến ngày 19/02/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên toà.
- Nguyễn Sỹ L5, sinh năm 1983.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông Nguyễn Sỹ C1, đã chết và bà Phan Thị A1, sinh năm 1945; Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ bảy; Vợ Ngô Thị X, sinh năm 1989; Con: 04 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2021.
Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 17/02/2024 đến ngày 19/02/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên toà.
- Nguyễn Thanh H9, sinh năm 1970.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: Khu phố B, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông Nguyễn Thanh L6, sinh năm 1934 (đã chết năm 2024) và bà Mạc Thị X1, sinh năm 1947; Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ Nguyễn Thị L7, sinh năm 1974; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 17/02/2024 đến ngày 19/02/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên toà.
- Lại Đắc C2, sinh năm 1975.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông Lại Đắc C3 (đã chết) và bà Nguyễn Thị M2, sinh năm 1952; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ Phan Thị H10, sinh năm 1980; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2022.
Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 17/02/2024 đến ngày 19/02/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 16/02/2024, khi Nguyễn Quang H, sinh năm 1982 có hộ khẩu thường trú (HKTT): thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh đang ở nhà thì có Nguyễn Huy H5, sinh năm 1973; Nguyễn Huy K1, sinh năm 1971; Nguyễn Nhân D1, sinh năm 1981; Nguyễn Hải L2, sinh năm 1994; Đỗ Đình Đ3, sinh năm 1983 đều có HKTT ở thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh và Dương Đắc K, sinh năm 1976 ở thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh đến uống nước. Quá trình ngồi chơi uống nước thì có rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh “Liêng” sát phạt bằng tiền Ngân hàng N4. Quang H đồng ý cho mọi người đánh bạc tại gian phòng khách tầng 1, trước khi đánh bạc thì Quang H chuẩn bị một bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân mặt sau màu xanh-trắng và trải 02 chiếc chiếu nhựa (01 chiếc màu vàng - nâu và 01 chiếu màu vàng - đỏ) ra giữa phòng khách đồng thời cùng tham gia đánh bạc. Còn anh Đ3 thì không tham gia chơi và ngồi uống nước và xem mọi người đánh bạc. Khi chơi mọi người có quy ước vào gà là 50.000đ, sáp thì được của mỗi người thua là 200.000đ, liêng đồng hoa thì được của mỗi người thua là 100.000đ, ai đặt cửa thì tùy theo thỏa thuận.
Khi Quang H, Huy H5, K, D1, K1 chơi được một lúc thì có một số người đến nhà anh H5 để ngồi chơi uống nước, gồm: Nguyễn Sỹ L5, sinh năm 1983; Phan Khắc H2, sinh năm 1987; Nguyễn Huy Đ1, sinh năm 1987 đều ở thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; Lại Đắc C2, sinh năm 1975; Lại Đắc D2, sinh năm 1975 đều ở thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; Nguyễn Thanh H9, sinh năm 1970 ở khu phố B, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh và anh Ngô Văn B1, sinh năm 1984 ở thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Khi đến nhà anh Quang H thấy mọi người đang đánh bạc dưới hình thức đánh “Liêng” sát phạt bằng tiền Ngân hàng N4 thì D2, L5, H9, C2 có trực tiếp tham gia mở cửa để đánh bạc, Đ1 tham gia “ké cửa” vị trí D2 ngồi để đánh bạc, còn anh B1 thì ngồi uống nước không tham gia chơi. Chơi được một lúc thì L5 hết tiền, lúc này L5 có hỏi H2 vay số tiền 10.000.000đ để tiếp tục đánh bạc. Hiệu biết L5 vay tiền để đánh bạc nhưng H2 vẫn đồng ý. Hiệu cho L5 vay hai lần, mỗi lần 5.000.000đ. Sau khi vay được Hiệu tiền, L5 tiếp tục đánh bạc cùng mọi người.
Đến 21 giờ 45 phút cùng ngày, khi các đối tượng đang đánh bạc thì bị lực lượng Công an huyện T kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ:
- + 01 bộ bài tú lơ khơ có 52 quân, một mặt sau màu trắng - xanh;
- + 01 chiếc chiếu bằng nhựa màu vàng - nâu;
- + 01 chiếc chiếu bằng nhựa màu vàng - đỏ;
- + Tại chiếu bạc thu số tiền là: 87.000.000 đồng;
- + Thu trên người các đối tượng tổng số tiền là 50.050.000 đồng (trong đó, thu của Quang H 14.500.000 đồng, K 5.000.000 đồng, K1 13.050.000 đồng, Huy H5 6.500.000 đồng, H9 10.500.000 đồng, D1 500.000 đồng).
Cách thức đánh bạc dưới hình thức đánh liêng và mức độ sát phạt được xác định như sau:
Các đối tượng sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân gồm các hàng A, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q, K, mỗi hàng có 04 quân bài tương ứng với các chất là cơ- rô- bích- tép. Khi chơi, những người chơi ngồi quây tròn với nhau, trong mỗi ván chơi, mỗi người chơi được chia 03 quân bài, số quân bài còn lại được úp xuống giữa chiếu bạc gọi là “nọc”. Ván đầu tiên không quy ước ai là người chia bài, từ những ván tiếp theo, ai là người thắng ván trước sẽ là người chia bài ván tiếp. Sau khi chia bài xong, mỗi người chơi đặt vào giữa chiếu bạc 50.000 đồng gọi là “gà”. Ngoài ra, các đối tượng còn thống nhất với nhau ai thắng một ván sáp thì mỗi người chơi còn lại phải trả cho người thắng 200.000 đồng; ai thắng một ván liêng đồng hoa thì mỗi người chơi phải trả cho người thắng 100.000 đồng. Khi lên bài thì người chơi có quyền đưa ra các lựa chọn sau: Quyền “Tố” (Tức đặt tiền vào trong chiếu bạc đối với người đặt cửa đầu tiên hoặc đặt số tiền lớn hơn so với người đã đặt tiền trước đó). Trong mỗi ván chơi, người chơi có thể được tố nhiều lần, “tố” từ 50.000 đồng trở lên, không giới hạn. Khi “Tố” thì người chia bài sẽ là người được quyền “Tố” đầu tiên, sau đó, thứ tự lần lượt từ phải qua trái. Quyền “Theo hoặc C4” (Đặt số tiền vào trong bàn bạc bằng với số tiền người trước đó đã tố). Quyền “Úp (Tức bỏ bài và từ bỏ số tiền đã vào gà và số tiền đã tố trước đó, người úp bài coi như đã chịu thua ván bài). Những người cùng tham gia “Tố, Theo” sẽ mở bài của mình để phân định thắng thua khi số tiền “Tố”, “Theo hoặc C4” bằng nhau và không có ai “Tố” thêm khi kết thúc lượt. Người nào thắng sẽ được lấy toàn bộ số tiền mà những người chơi đã đặt cửa và “Tố”, “Theo hoặc C4” trong ván bài đó. Cách thức tính điểm và phân định thắng thua như sau:
- “Sáp”: là trường hợp ba quân bài của người chơi có cùng hàng (Ví dụ: ba quân A, ba quân H, ba quân Q...). Sáp được tính là cao nhất, bài của người chơi nào có “Sáp” sẽ thắng bài của người chơi có “Liêng”, “Ảnh” và “Cộng điểm”. Trong “Sáp” thì “Sáp” A được tính là cao nhất sau đó theo thứ tự lần lượt đến “Sáp” K, Q, J.. trở xuống. Thấp nhất trong bài “Sáp” là “Sáp” 2.
- “Liêng”: là bài của người chơi có ba quân bài ở các hàng liền kề nhau, không cần đồng chất đồng màu (Ví dụ: các quân bài 2,3,4; 10, J, Q hoặc Q, K, A...). Người có bài “Liêng” được tính điểm cao thứ hai (Sau bài “Sáp”), trong “Liêng” thì “Liêng” Q, K, A được tính cao nhất. Trường hợp bài của những người chơi có “Liêng” gồm các quân bài ở các hàng như nhau thì sẽ so sánh chất có trong quân bài ở hàng cao nhất của “Liêng” để phân định thắng thua. Thứ tự hàng được tính A là cao nhất, sau đó đến hàng K, Q, J... hàng 2 là thấp nhất. Thứ tự chất được tính cao nhất là chất rô rồi lần lượt đến cơ, bích, tép. “Liêng đồng hoa” là bài có 3 quân bài liền kề và cùng chất với nhau.
- “Ảnh”: là bài của người chơi có ba quân bài hình người (ở các hàng J, Q, K) nhưng không phải là “Sáp” và “Liêng” (Tức có 02 quân bài cùng hàng và 01 quân bài khác hàng). Ví dụ: 2 quân bài Q, 1 quân bài J. Nếu như bài của các người chơi cùng có “ảnh” thì sẽ phân định thắng thua theo hàng và chất của quân bài ở hàng cao nhất trong “ảnh”. “Ảnh” nào có quân bài ở hàng cao nhất lớn hơn sẽ thắng, nếu các quân bài ở hàng cao nhất của “ảnh” bằng nhau thì sẽ phân định bằng chất của quân bài ở hàng cao nhất đó. Thứ tự hàng và chất được tính cao nhất là hàng K, sau đó đến Q, J, về chất được tính như “Liêng”.
- “Điểm”: Nếu trên bài của những người tham gia chơi đều không có “Sáp”, “Liêng” hoặc “Ảnh” thì những người tham gia chơi sẽ cộng các số trên ba quân bài của mình lại để tính điểm, ai là người có điểm cao sẽ thắng ván bài đó. Khi cộng điểm quân Át được tính là 1 điểm, các quân 10, J, Q, K được tính là 0 điểm, các quân còn lại được tính theo số trên quân bài. Số điểm cao nhất được tính là 9 điểm, nếu số điểm lớn hơn 9 thì chỉ tính hàng đơn vị của số điểm đó: Ví dụ: bài của người chơi gồm các quân 4, 7, 8 cộng lại là 19 nhưng chỉ tính là 9 điểm, nếu tổng 03 quân bài cộng lại là 10 hoặc 20 thì bài của người đó là 0 điểm. Khi những người chơi cùng điểm thì sẽ căn cứ vào “chất” có trong quân bài ở hàng cao nhất để xác định thắng thua. Q bài cao nhất là A rô, tiếp theo là từ quân bài 9 trở xuống thứ tự tính cao thấp theo “chất” là R- Cơ- B- Tép.
Số tiền các đối tượng mang theo đánh bạc và dùng vào việc đánh bạc như sau:
Khi tham gia đánh bạc thì Quang H có 25.500.000đ, khi bị bắt quả tang thu giữ trên người Quang Hưng số tiền 14.500.000đ; C2 mang theo 22.000.000₫ đã thua hết số tiền trên; H9 mang theo 14.000.000đ, khi bị bắt quả tang thu giữ trên người số tiền 10.500.000đ; Khuê mang theo 12.000.000đ, khi bị bắt quả tang thu giữ trên người số tiền 5.000.000đ; Khoa mang theo 10.400.000đ, khi bị bắt quả tang thu giữ trên người Khoa số tiền 13.050.000đ; Hiệu mang theo 10.000.000 (đã cho L5 vay toàn bộ số tiền trên); Đ1 mang theo 10.000.000 đ, khi bị bắt quả tang do sợ nên Đ1 đã ném toàn bộ số tiền trên xuống chiếu bạc; Huy H5 mang theo 7.000.000đ; khi bị bắt quả tang thu giữ trên người Huy Hưng số tiền 6.500.000đ; D1 mang theo 7.000.000đ, khi bị bắt quả tang thu giữ trên người D1 số tiền 500.000đ; L5 mang theo 3.000.000₫ sau đó vay Hiệu 10.000.000đ đã thua hết số tiền trên; L2 mang theo 6.300.000 đ đã thua hết số tiền trên và D2 mang theo 5.700.000đ tôi đã thua hết số tiền trên. Toàn bộ số tiền mang theo các bị cáo sẽ sử dụng hết để đánh bạc.
Về thu giữ và xử lý vật chứng:
Số tiền 137.050.000đ là số tiền các bị cáo dùng vào mục đích phạm tội.
Đối với 02 chiếc chiếu bằng nhựa ( trong đó 01 chiếu màu vàng - nâu; 01 chiếu màu vàng - đỏ) và 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân mặt sau màu trắng - xanh là công cụ, phương tiện dùng vào hành vi phạm tội do Quang H (chủ nhà) là người chuẩn bị.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, các đối tượng khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Tại bản cáo trạng số: 56/CT-VKSTD ngày 16/5/2024 của VKSND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Huy K1, Nguyễn Huy H5, Nguyễn Thanh H9, Phan Khắc H2, Nguyễn Huy Đ1, Nguyễn Hải L2, Nguyễn Nhân D1, Lại Đắc C2, Nguyễn Sỹ L5, Lại Đắc D2 và Dương Đắc K về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự và Nguyễn Quang H về tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 và điểm b, c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Các bị cáo khai nhận: Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 16/02/2024, tại nhà của Nguyễn Quang H ở thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Quang H đánh bạc cùng với Nguyễn Huy K1, Nguyễn Huy H5, Nguyễn Thanh H9, Phan Khắc H2, Nguyễn Huy Đ1, Nguyễn Hải L2, Nguyễn Nhân D1, Lại Đắc C2, Nguyễn Sỹ L5, Lại Đắc D2 và Dương Đắc K bằng hình thức đánh liêng ăn tiền với tổng số tiền đánh bạc là 137.050.000 đồng thì bị lực lượng Công an huyện T đã kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh để xét xử đối với các bị cáo: Phan Khắc H2, Nguyễn Huy Đ1, Nguyễn Huy H5, Dương Đắc K, Nguyễn Huy K1, Nguyễn Nhân D1, Nguyễn Hải L2, Lại Đắc D2, Nguyễn Sỹ L5, Lại Đắc C2, Nguyễn Thanh H9 đã phạm tội: "Đánh bạc” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 và bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Đánh bạc và tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321, điểm b,c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự.
Sau khi phân tích tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm b,c khoản 1 Điều 322; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 54, Điều 55, Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H từ 24 tháng tù đến 26 tháng tù về tội Đánh bạc và từ 12 tháng đến 14 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt của hai tội là từ 36 tháng đến 40 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 17/02/2024 đến 22/02/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy Đại t 36 tháng tù đến 40 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 17/02/2024 đến 19/02/2024.
Xử phạt các bị cáo Phan Khắc H2, Nguyễn Huy H5, Dương Đắc K, Nguyễn Huy K1, Nguyễn Nhân D1, Lại Đắc D2, Lại Đắc C2, Nguyễn Thanh H9 mỗi bị cáo 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt các bị cáo Nguyễn Sỹ L5, Nguyễn Hải L2 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo H2, Huy H5, K, K1, D1, L2, D2, L5, C2 cho UBND xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Giao bị cáo H9 cho UBND phường Hồ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều trình bày có hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Công an huyện T, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có khiếu nại. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng trên đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ và tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên toà nên có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 16/02/2024, tại nhà của Nguyễn Quang H ở thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Quang H đã tổ chức đánh bạc và đánh bạc cùng với Nguyễn Huy K1, Nguyễn Huy H5, Nguyễn Thanh H9, Phan Khắc H2, Nguyễn Huy Đ1,Nguyễn Hải L2, Nguyễn Nhân D1, Lại Đắc C2, Nguyễn Sỹ L5, Lại Đắc D2 và Dương Đắc K bằng hình thức đánh “liêng” ăn tiền với tổng số tiền đánh bạc là 137.050.000 đồng. Do vậy, có đủ căn cứ xét xử các bị cáo Phan Khắc H2, Nguyễn Huy Đ1,Nguyễn Huy H5, Dương Đắc K, Nguyễn Huy K1, Nguyễn Nhân D1,Nguyễn Hải L2, Lại Đắc D2, Nguyễn Sỹ L5, Lại Đắc C2, Nguyễn Thanh H9 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự và bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 và điểm b, c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự như Cáo trạng truy tố là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.
[3] Xét vai trò của từng bị cáo: Các bị cáo Phan Khắc H2, Nguyễn Huy Đ1, Nguyễn Huy H5, Dương Đắc K, Nguyễn Huy K1, Nguyễn Nhân D1, Nguyễn Hải L2, Lại Đắc D2, Nguyễn Sỹ L5, Lại Đắc C2, Nguyễn Thanh H9 phạm tội là đồng phạm giản đơn không có sự bàn bạc hay phân công thực hiện tội phạm. Trong vụ án này các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc một cách bột phát, không hề có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ, không có sự phân công vai trò vị trí của từng người khi chơi bạc. Quá trình nảy sinh ý định phạm tội không có bị cáo nào khởi xướng mà tất cả các bị cáo đều thống nhất với nhau nên có vai trò như nhau. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt thì cần phải xem xét về nhân thân cũng như về số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc.
Bị cáo Nguyễn Quang H đã đồng ý cho các bị cáo khác sử dụng nhà mình làm địa điểm đánh bạc dưới hình thức đánh “liêng” và là người chuẩn bị 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân và 02 chiếu nhựa cho 12 người cùng đánh bạc với tổng số tiền đánh bạc là 137.050.000 đồng, nên bị cáo Nguyễn Quang H phải chịu trách nhiệm hình sự về tội: “Tổ chức đánh bạc” theo điểm b, c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội gây ra thì thấy: Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương nên cần xử lý phù hợp với hành vi phạm tội của các bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra xác định tất cả các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo Nguyễn Quang H, Nguyễn Hải L2 và Nguyễn Sỹ L5 đã cung cấp thông tin cho Cơ quan Công an huyện T bắt quả tang một số đối tượng có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Nguyễn Huy H5 có mẹ là Nguyễn Thị T1 được tặng thường Huy chương kháng chiến hạng nhất, bố là Nguyễn Huy C được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng ba.
Bị cáo Nguyễn Huy K1 có bố là Nguyễn Huy M3 được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất, mẹ là Phan Thị H7 được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì.
Bị cáo Nguyễn Huy Đ1 có bố là Nguyễn Huy D, được Chủ tịch nước tặng Huy chương chiến sỹ vẻ vang hạng ba, ông nội là Nguyễn Huy M3 được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất, bà nội là Phan Thị H7 được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì.
Bị cáo Phan Khắc H2 có ông nội là Phan Khắc H11 có Giấy chứng nhận tham gia dân công hoả tuyến, được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất, huân chương kháng chiến hạng ba, có bố là Phan Khắc T có thời gian phục vụ trong quân ngũ.
Bị cáo Nguyễn Nhân D1 có bố là Nguyễn Nhân L1 là người được hưởng chế độ như thương binh và được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất.
Bị cáo Nguyễn Quang H có tài trợ cho trường tiểu học N5, được tặng thưởng giấy khen gương người tốt dũng cảm cứu người của ủy ban nhân dân xã T, huyện T, có bố là Nguyễn Nhân H1 được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba, mẹ là bà Đỗ Thị L được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì.
Bị cáo Lại Đắc D2, Dương Đắc K có tham gia và hoàn thành nghĩa vụ quân sự.
Bị cáo Nguyễn Hải L2 tham gia ủng hộ quỹ Hội chữ thập đỏ xã T.
Bị cáo Nguyễn Thanh H9 có bố vợ là Nguyễn Thế L8 có thời gian tham gia chống Mỹ cứu nước và là bệnh binh hạng ba.
Bị cáo Lại Đắc C2 có xác nhận của Công an xã T ủng hộ người nghèo và làm việc tốt.
Nên các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo Nguyễn Quang H: Đối với tội “Đánh bạc” có nhiều tình tiết giảm nhẹ xét thấy cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Bị cáo phạm 02 tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc” nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Huy Đ1 có nhân thân xấu: Tại Quyết định số 161 ngày 31/11/2010, Công an huyện T xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Hình thức cảnh cáo và tại Quyết định số 03 ngày 14/01/2022, Công an huyện T xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc”. Hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng. Đã chấp hành xong ngày 20/4/2022. Xét thấy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo đối với bị cáo.
Các bị cáo Phan Khắc H2, Nguyễn Huy H5, Dương Đắc K, Nguyễn Huy K1, Nguyễn Nhân D1, Nguyễn Hải L2, Lại Đắc D2, Nguyễn Sỹ L5, Lại Đắc C2, Nguyễn Thanh H9 đều có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, xét thấy có đủ điều kiện cho hưởng án treo. Xét thấy, cho các bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ để giáo dục các bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn được UBND xã xác nhận nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với các bị cáo.
[4] Về vật chứng:
Đối với số tiền 137.050.000 đồng các bị cáo dùng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với 02 (hai) chiếc chiếu bằng nhựa (trong đó 01 chiếu màu vàng - nâu; 01 chiếu màu vàng - đỏ) và 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân mặt sau màu trắng – xanh mà các bị cáo dùng để đánh bạc cần tịch thu tiêu huỷ.
[5] Liên quan trong vụ án này có:
Đối với anh Ngô Văn B1 và anh Đỗ Đình Đ3 có mặt tại nhà của Q ngày 16/02/2024: Quá trình điều tra xác định anh B1 và anh Đ3 không tham gia chơi đánh bạc cùng các bị cáo mà chỉ ngồi ngoài xem nên Cơ quan điều tra chỉ nhắc nhở, giáo dục anh B1 và anh Đ3 là đúng pháp luật.
Đối với chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1982 (là vợ của Quang H), chị B không biết việc Quang H cùng các đối tượng đánh bạc tại nhà nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là đúng pháp luật.
[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo : Phan Khắc H2, Nguyễn Huy Đ1, Nguyễn Huy H5, Dương Đắc K, Nguyễn Huy K1, Nguyễn Nhân D1,Nguyễn Hải L2, Lại Đắc D2, Nguyễn Sỹ L5, Lại Đắc C2, Nguyễn Thanh H9 phạm tội "Đánh bạc”; Bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc”.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm b, c khoản 1 Điều 322; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 54; Điều 55; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Nguyễn Quang H 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội :Đánh bạc” và 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội là 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 17/02/2024 đến 22/02/2024.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Nguyễn Huy Đ1 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 17/02/2024 đến 19/02/2024.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Nguyễn Hải L2, Nguyễn Sỹ L5 mỗi bị cáo 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Phan Khắc H2, Nguyễn Huy H5, Dương Đắc K, Nguyễn Huy K1, Nguyễn Nhân D1, Lại Đắc D2, Lại Đắc C2, Nguyễn Thanh H9 mỗi bị cáo 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo: Phan Khắc H2, Nguyễn Huy Đ1, Nguyễn Huy H5, Dương Đắc K, Nguyễn Huy K1, Nguyễn Nhân D1,Nguyễn Hải L2, Lại Đắc D2, Nguyễn Sỹ L5, Lại Đắc C2 cho UBND xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Thanh H9 cho UBND phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.
Nếu bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự; Nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 2 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối các bị cáo.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền 137.050.000 đồng.
Tịch thu tiêu huỷ: 2(hai) chiếc chiếu bằng nhựa (trong đó 01 chiếu màu vàng - nâu; 01 chiếu màu vàng - đỏ) và 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân mặt sau màu trắng – xanh.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị cáo quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Anh Văn |
Bản án số 106/2024/HSST ngày 13/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH về hình sự (đánh bạc và tổ chức đánh bạc)
- Số bản án: 106/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc và Tổ chức đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: danh bac
