|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 106/2023/HSST Ngày: 11/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Lan Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Cao Thị Én
Ông Dương Công Túy
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Út – Thư ký Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Cao - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 106/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2023/QĐXX-ST ngày 14/7/2023 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 51/2023/TB-TA ngày 28/7/2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Phước Đ (tên gọi khác: Không), Giới tính: N.
Sinh năm 1988 tại thành phố Hồ Chí Minh.
Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Phật giáo.
Hộ khẩu thường trú: 1724/10D, Phạm Thế H, Phường F, Quận H, thành phố Hồ Chí Minh.
Trình độ học vấn: 0/12; Nghề nghiệp: Không.
Con ông: Nguyễn Phước H1, sinh năm 1957 (đã chết) và Phùng Thị B, sinh năm 1959.
Gia đình bị cáo có 05 anh em, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình và chưa có vợ, con.
Tiền án: Có 03 tiền án:
- Tại Bản án số 13/2005/HSST ngày 20/01/2005, Tòa án nhân dân Quận 8, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt bị cáo 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Tại Bản án số 202/2007/HSST ngày 27/11/2007, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt bị cáo 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản".
- Tại Bản án số 1346/2008/HSPT ngày 20/11/2008, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xử phạt bị cáo tù chung thân về tội “Giết người” (Bản án số 674/2008/HSST ngày 28/8/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh có kháng cáo).
Tiền sự: Không.
Hiện đang chấp hành án tại Trại giam X, Cục C, Bộ C1 – Có mặt.
Bị hại: Anh Mai Văn Đ1, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Phước Đ là phạm nhân đang thi hành án phạt tù chung thân từ ngày 06/10/2006 theo Quyết định Thi hành án hình phạt tù chung thân số 3037/2008/QĐ-CA ngày 18/12/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 07/4/2022, Đ được chuyển đến chấp hành án tại Đội phạm nhân số 28, P, Trại Giam X - Cục C - Bộ C1 do anh Mai Văn Đ1 là cán bộ quản giáo phụ trách đội. Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 23/9/2022, trong quá trình lao động tại xưởng học nghề của Đội phạm nhân số 28 - Phân trại số B - Trại giam X, giữa Đoạt và Trần Hồng Q, sinh năm 1985, thường trú trước khi thi hành án tại khu B, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ cùng là phạm nhân chấp hành án đã xảy ra mâu thuẫn cãi nhau nên Đ đã cầm 01 tua vít bằng kim loại (dụng cụ lao động) lao đến đâm liên tục về phía Q, nhưng Q dùng ghế chống đỡ được. Thấy hành vi của Đ có thể gây ảnh hưởng đến tính mạng của Q nên ngay lập tức anh Đ1 liền đến dùng chân đạp 01 (một) cái trúng vào người Đoạt để ngăn cản không cho Đ tiếp tục thực hiện hành vi nguy hiểm đối với Q. Hậu quả làm cho Đ bị ngã xuống va đập vùng mặt vào 01 cái ghế gây xây xát da tại vị trí trán của Đ. Do bị anh Đ1 dùng chân đạp té ngã nên Đ ấm ức trong lòng. Vào khoảng 07 giờ 00 phút ngày 26/9/2022, tại xưởng lao động học nghề đan ghế Đội phạm nhân số 28 - Phân trại số B - Trại giam X, anh Đ1 đang ngồi tại bàn làm việc để quản lý, giám sát phạm nhân lao động, Đ đang ở khu vực làm việc. Khu vực làm việc được chia theo từng khu vực lao động (chia thành 03 ô khu vực lao động) thì Đ cầm 01 đoạn cây gỗ có kích thước dài 100cm, rộng 05cm, dày 02cm, là dụng cụ lao động đứng ở vị trí khu vực ô thứ ba đi đến cạnh bên phải bàn làm việc của anh Đ1 đang ngồi ở vị trí khu vực ô thứ nhất. Đoạt lớn tiếng nói “Ông Đ1 ơi, bữa ông đánh tôi à” đồng thời Đoạt vung cây đánh 01 cái trúng vào cánh tay phải của anh Đ1 và tiếp tục vung cây gỗ đánh 01 cái nữa thì anh Đ1 đưa tay phải lên đỡ nên bị đánh trúng vào mu bàn tay phải và làm gãy đoạn gỗ Đ đang cầm và anh Đ1 bỏ chạy sang khu vực ô thứ hai. Sau đó, Đ liền nhặt 01 cái kéo bằng kim loại và 01 đoạn gỗ ở dưới đất gần khu vực làm việc của anh Đ1 rồi đi về khu vực làm việc của Đoạt. Lúc này, anh Nguyễn Cảnh Đ2, sinh năm 1985, thường trú tại khu phố B, thị trấn G, huyện X, Đồng Nai là Cán bộ quản giáo Đội phạm nhân số 13 thấy sự việc như trên liền đến hỗ trợ cùng anh Đ1 dùng bình xịt hơi cay (công cụ hỗ trợ) xịt về phía Đoạt nhằm ngăn chặn hành vi của Đ. Đồng thời, yêu cầu bị can Đ bỏ hung khí xuống. Tuy nhiên, Đ không chấp hành yêu cầu của anh Đ1 và anh Đ2 nên Đ cầm hung khí cố thủ tại vị trí lao động của mình (ô thứ 3). Sau đó, Chỉ huy P trại số 02 đã tăng cường thêm lực lượng xuống hiện trường vụ việc thì Đ đã bỏ hung khí, chấp hành làm việc.
- Tại Bản kết luận giám định về thương tích số: 5923/C09B ngày 10/11/2022 của Phân viện Khoa học hình sự tại TP . Hồ Chí Minh, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra tại thời điểm giám định của Mai Văn Đ1 là 01% (Một phần trăm).
- Tại Bản kết luận giám định về thương tích số: 524/C09B ngày 10/11/2022 của Phân viện Khoa học hình sự tại TP . Hồ Chí Minh, kết luận: Thương tích của Mai Văn Đ1 có đặc điểm phù hợp do vật tày tác động gây ra. Vật chứng vụ án thu giữ gồm:
- 01 (một) đoạn cây gỗ dẹp, cạnh vuông, dài 70cm, bản rộng 05cm, dày 02cm;
- 01 (một) đoạn cây gỗ dẹp, cạnh vuông, dài 30cm, bản rộng 05cm, dày 02cm.
- - 01 (một) kéo bằng kim loại, dài 20cm (cán dài 10cm, lưỡi dài 10cm);
- - 01 (một) đoạn cây gỗ dẹp, cạnh vuông, dài 100cm, bản rộng 05cm, dày 02cm.
Về Trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ việc trên xảy ra, anh Mai Văn Đ1 không yêu cầu gì về dân sự.
Tại bản cáo trạng số 98/CT-VKS-P2 ngày 17/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Phước Đ về tội “Cố ý gây thương tích” điểm d khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo từ: 02 năm đến 03 năm tù, đồng thời tổng hợp với hình phạt bị cáo đang chấp hành tại Bản án số 1346/2008/HSPT ngày 20/11/2008 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh theo quy định pháp luật.
Về xử lý vật chứng: đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Do ấm ức việc anh Mai Văn Đ1 là cán bộ quản giáo phụ trách đội phạm nhân số 28 - Phân trại số 02 - Trại giam X nơi bị cáo chấp hành án khi can ngăn bị cáo và Q là phạm nhân cùng chấp hành án đã dùng chân đạp 01 (một) cái làm bị cáo ngã xuống va đập gây xây xát da vùng trán trước đó (ngày 23/9/2023) nên vào khoảng 07 giờ 00 phút ngày 26/9/2022, tại xưởng lao động học nghề, Đội phạm nhân số 28, bị cáo đã có hành vi dùng 01 đoạn cây gỗ có kích thước dài 100cm, rộng 05cm, dày 02cm đánh 01 cái trúng vào cánh tay phải và 01 cái đánh trúng vào mu bàn tay phải của anh Đ1 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 01%.
Do bị cáo dùng cây gỗ là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho anh Đ1 và bản thân bị cáo đã tái phạm, chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc tình tiết định khung tái phạm nguy hiểm. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 và điểm d khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự nơi chấp hành án, bản thân bị cáo đang chấp hành án nhưng không chịu lấy đó làm bài học để tự rèn luyện, sửa chữa bản thân mà phạm tội đối với cán bộ quản lý, do vậy cần phải có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hội đồng xét xử xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có các tình tiết giảm nhẹ như: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có trình độ học vấn thấp. Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
Anh Mai Văn Đ1 không yêu cầu gì về dân sự nên không xem xét, giải quyết.
[5] Về xử lý vật chứng:
Cần tịch thu tiêu hủy 01 (một) đoạn cây gỗ dẹp, cạnh vuông, dài 70cm, bản rộng 05cm, dày 02cm; 01 (một) đoạn cây gỗ dẹp, cạnh vuông, dài 30cm, bản rộng 05cm, dày 02cm; 01 (một) kéo bằng kim loại, dài 20cm (cán dài 10cm, lưỡi dài 10cm); 01 (một) đoạn cây gỗ dẹp, cạnh vuông, dài 100cm, bản rộng 05cm, dày 02cm.
[6] Về án phí:
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[7] Về tổng hợp hình phạt:
Tại Bản án số 1346/2008/HSPT ngày 20/11/2008, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xử phạt bị cáo tù chung thân về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2006.
Quá trình chấp hành án, bị cáo được giảm án 03 lần:
- Lần thứ 1: Ngày 16/01/2020, bị cáo được giảm chấp hành hình phạt tù từ chung thân xuống còn 30 năm theo Quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù số 27/2020/QĐ-TA của TAND thành phố Hải Phòng.
- Lần thứ 2: Ngày 29/01/2021, bị cáo được giảm 05 tháng tù theo Quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù số 474/2021/QĐ-TA của TAND thành phố Hải Phòng.
- Lần thứ 3: Ngày 22/01/2022, bị cáo được giảm 07 tháng tù theo Quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù số 385/2022/QĐ-TA của TAND thành phố Hải Phòng.
Như vậy, cần tổng hợp hình phạt 29 năm tù còn lại sau khi đã được giảm án của Bản án số 1346/2008/HSPT ngày 20/11/2008 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh với mức hình phạt tại bản án này buộc bị cáo phải chấp hành chung, thời hạn chấp hành án tính từ ngày 06/10/2006.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1, điểm d khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55; khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phước Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phước Đ 02 (hai) năm tù.
Tổng hợp với hình phạt 29 năm tù sau khi đã được giảm án tại Bản án số 1346/2008/HSPT ngày 20/11/2008 của Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP buộc bị cáo phải chấp hành chung là 30 (ba mươi năm) tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2006.
2. Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) đoạn cây gỗ dẹp, cạnh vuông, dài 70cm, bản rộng 05cm, dày 02cm; 01 (một) đoạn cây gỗ dẹp, cạnh vuông, dài 30cm, bản rộng 05cm, dày 02cm; 01 (một) kéo bằng kim loại, dài 20cm (cán dài 10cm, lưỡi dài 10cm); 01 (một) đoạn cây gỗ dẹp, cạnh vuông, dài 100cm, bản rộng 5cm, dày 02cm theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc.
3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Lan Hương |
Bản án số 106/2023/HSST ngày 11/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 106/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Phước Đoạt về tội “Cố ý gây thương tích” điểm d khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự
