Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 11/7/2024

V/v ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Quyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Thị Kim Thảo;
  2. Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên toà:

Bà Trần Thị Mỹ Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 70/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 162/2024/QĐXX-ST ngày 30 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 162/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Thanh T, sinh năm 1997; (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
  2. Nơi cư trú: số F, tổ B, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

    SĐT: 0356.869.xxx

  3. Bị đơn: Anh Nguyễn Công T1, sinh năm 1989; (vắng mặt)
  4. Nơi cư trú: tổ A, ấp B, xã A, huyện C, tỉnh An Giang.

    SĐT: 0355.313.xxx

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn chị Phạm Thị Thanh T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Nguyễn Công T1 sau một thời gian tìm hiểu, đến năm 2015 tiến đến hôn hôn, vợ chồng có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn chị về chung sống bên gia đình chồng, được khoảng 03 năm thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống trong sinh hoạt gia đình, trong việc làm ăn, tiền bạc.... Vợ chồng ly thân từ tháng 8/2023. Do tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn, nên chị yêu cầu ly hôn với anh T1.

- Về quan hệ con chung: có 01 con chung: Nguyễn Anh K, sinh ngày 31/3/2017. Hiện cháu K đang sống với chị, khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Công T1 trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Thống nhất với lời trình bày của chị T về thời gian và điều kiện kết hôn. Vợ chồng do tìm hiểu tiến đến hôn nhân, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, về sau thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do cuộc sống gia đình bị thiếu hụt có chút nợ nần nên kinh tế thiếu thốn. Anh và chị T ly thân từ tháng 9/2023 đến nay. Anh còn tình cảm với vợ con nên không đồng ý ly hôn.

- Về quan hệ con chung: có 01 con chung: Nguyễn Anh K, sinh ngày 31/3/2017.

- Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

+ Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân: đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Thanh T. Về con chung: đề nghị giao cháu Nguyễn Anh K cho chị T tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng, anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T không yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên đề nghị không đặt ra xem xét. Về án phí: chị T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1.1] Thẩm quyền giải quyết: bị đơn anh Nguyễn Công T1 hiện có nơi cư trú tại: tổ A, ấp B, xã A, huyện C, tỉnh An Giang, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

[1.2] Quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn chị Phạm Thị Thanh T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Công T1 và yêu cầu nuôi con, căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là vụ án về tranh chấp ly hôn, nuôi con.

[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự:

Ngày 28/6/2024, nguyên đơn chị Phạm Thị Thanh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt được Hội đồng xét xử chấp nhận. Bị đơn anh Nguyễn Công T1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Thanh T thấy:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Theo nguyên đơn chị T trình bày thì chị và bị đơn anh Nguyễn Công T1 do tìm hiểu tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, được khoảng 03 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị T trình bày do vợ chồng bất đồng quan điểm sống trong sinh hoạt gia đình, trong việc làm ăn, tiền bạc..... Bị đơn anh T1 trình bày vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do cuộc sống gia đình bị có chút nợ nần nên kinh tế thiếu hụt. Anh và chị T ly thân từ tháng 9/2023 đến nay.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã mở phiên hoà giải nhằm tạo điều kiện để chị T và anh T1 hàn gắn tình cảm, anh T1 không đồng ý ly hôn và vắng mặt trong các phiên hòa giải, nhưng chị T vẫn kiên quyết ly hôn, điều này chứng tỏ chị T không có nguyện vọng đoàn tụ với anh T1. Chị T và anh T1 đã ly thân từ tháng 9/2023, nhưng anh và chị vẫn không hàn gắn tình cảm lại được.

Tất cả điều này cho thấy hôn nhân của chị T và anh T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T.

[2.2] Về quan hệ con chung: Chị T và anh T1 có một con chung tên: Nguyễn Anh K, sinh ngày 31/3/2017. Hiện cháu K đang sống với chị T. Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 27/5/2024, cháu K có nguyện vọng sống với mẹ nếu cha mẹ ly hôn.

Xét thấy, từ khi ly thân đến nay cháu K đã sống ổn định với chị T, anh T1 không có ý kiến được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K. Do đó, để đảm bảo cuộc sống của cháu được ổn định, không bị xáo trộn sau khi cha mẹ ly hôn nên căn cứ quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, giao cháu K cho chị T tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng. Chị T phải tạo điều kiện thuận lợi cho anh T1 được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc cháu K, không ai cản trở khi anh T1 thực hiện quyền này.

Về cấp dưỡng: Chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: theo chị T và anh T1 trình bày vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.

[3] Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0004524 ngày 21/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Thanh T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Thanh T được ly hôn với anh Nguyễn Công T1.
  2. Về quan hệ con chung: có một con chung tên: Nguyễn Anh K, sinh ngày 31/3/2017. Chị T được quyền tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Anh K.
  3. Về cấp dưỡng: Anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T không yêu cầu.

    Chị T cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh T1 thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Anh K.

    Nếu người không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người còn lại thì người còn lại có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng dựa trên các quy định của pháp luật.

  4. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết. Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
  5. Về án phí: Chị Phạm Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0004524 ngày 21/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
  6. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị Thanh T và anh Nguyễn Công T1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã An Hòa;
  • - Phòng KTNV& THA;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Kim Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 106/2024/HNGĐ-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 106/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn chị Phạm Thị Thanh T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Công T1 và yêu cầu nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger