|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 106/2024/DS- PT Ngày: 10/5/2024 “Tranh chấp lối đi chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Văn Quyết.
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang
Ông Nguyễn Việt Hùng
Thư ký phiên toà: Ông Trịnh Đình Đức - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: Bà Ngô Thị Vân Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 10/5/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 327/2023/TLPT- DS ngày 13 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp lối đi”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 26/2023/DS-ST ngày 11/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Sơn Động bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 71A/2024/QĐ-PT ngày 15/02/2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 93/2024/TB-TA ngày 13/3/2024; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 123/2024/QĐ- PT ngày 10/4/2024 giữa:
- Nguyên đơn: Ông Nịnh Văn T, sinh năm 1968, có mặt
Địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn: Ông Đàm Đình Đ, sinh năm 1971, có mặt
Địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị N, sinh năm 1974 (vợ ông Đàm Đình Đ), vắng mặt
Địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị N: Ông Đàm Đình Đ, sinh năm 1971 (là bị đơn trong vụ án), văn bản ủy quyền ngày 10/6/2023, có mặt
- Ủy ban nhân dân xã Y, do ông Hoàng Mạnh H, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Y đại diện. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân huyện S, tỉnh Bắc Giang do ông Ngọc Đức V - Phó Trưởng phòng Tài nguyên và môi trường huyện S đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 2413/UBND-NC, ngày 09/8/2023), vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người kháng cáo: Nguyên đơn anh Nịnh Văn T.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai và các lời khai tiếp theo ông Nịnh Văn T trình bày: Ông có 01 thửa đất ruộng tại khu L, thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Nguồn gốc thửa đất là do bố mẹ ông khai hoang mà có. Năm 1999, bố mẹ ông để lại thửa đất cho ông quản lý, sử dụng. Đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ Nịnh Văn T, thuộc thửa số 74, tờ bản đồ số 1, diện tích 312m².
Để đi vào thửa đất của gia đình canh tác, gia đình ông sử dụng lối đi nhỏ nối từ đường liên thôn T vào thửa đất. Lối đi là đường đất chạy dọc theo bờ mương thoát nước của ao hợp tác xã. Lối đi này đã có từ xưa, là lối đi chung của người dân trong thôn có đất giáp với lối đi. Lối đi tiếp giáp một bên là mương thoát nước, một bên giáp đất của ông Đàm Đình Đ. Kích thước lối đi rộng khoảng 2m (xe trâu đi lại được), dài khoảng 30m.
Nguyên nhân xảy ra tranh chấp là do ông Đ mua lại ao của hợp tác xã. Sau đó ông Đ nhận là đã mua cả mương thoát nước nên đã trồng cây lâu năm lên một phần lối đi và mành rào bằng dây thép gai. Đến nay, ông Đ lại đổ đất, trồng cây lấn chiếm lối đi, nên ông không còn lối đi vào thửa đất của mình. Ông có yêu cầu ông Đ phải trả lại lối đi nhưng ông Đ không đồng ý nên hai bên sảy ra tranh chấp. Ủy ban nhân dân xã Y tiến hành hòa giải nhưng không có kết quả
Ban đầu ông khởi kiện yêu cầu ông Đ phải tháo dỡ, di dời cây trồng trên lối đi để trả lại lối đi kích thước rộng 2m, dài 16m, diện tích 32m² cho ông và người dân sử dụng để đi lại. Sau khi Tòa án tiến hành xem xét thẩm định, đo đạc lối đi theo chỉ dẫn của ông, xác định diện tích lối đi có tranh chấp là 33,9m², ông đã thay đổi yêu cầu khởi kiện.
Tại đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện đề ngày 08/7/2023, ông T yêu cầu ông Đ phải di dời cây trồng trên đất để trả lại 33,9m² diện tích lối đi cho ông và người dân sử dụng.
Tài liệu, chứng cứ ông T giao nộp cho Tòa án gồm có 01 bản sao căn cước công dân, bản sao sổ hộ khẩu, bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, 01 đơn xin xác nhận, 01 bộ hồ sơ hòa giải tại UBND xã Y.
Tại bản tự khai, biên bản ghi lời khai, biên bản hòa giải, bị đơn ông Đàm Đình Đ trình bày: Gia đình ông có một thửa đất bãi trồng cây lâu năm ở khu L, thôn T, xã T. Nguồn gốc đất do bố mẹ ông quản lý, sử dụng từ những năm 1975, 1976. Năm 1993, bố mẹ ông giao lại thửa đất cho ông quản lý, sử dụng. Quá trình quản lý, sử dụng không có tranh chấp với ai. Đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Năm 1982, do lũ to làm sói lở đập chắn nước ao Ông S, Chính quyền thôn T đã huy động nhân dân đào mương thoát nước dài khoảng 50m cắt ngang qua thửa đất nhà ông, chạy qua phần đất giáp ranh giữa thửa đất nhà ông T1 và nhà ông L, chảy xuống sốc ruộng nhà ông T ở khu L.
Năm 1997, ông có được thôn T chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích ao Ông S. Năm 1999, ông xây cống ngầm thoát nước chảy xuống khu vực sốc ruộng Lò Ngói nên đoạn mương cắt qua nương không sử dụng nữa, gia đình ông đã san lấp mương để trồng cây. Khi ông san lấp mặt bằng, không ai có ý kiến gì.
Nguyên nhân sảy ra tranh chấp là do năm 2018, sau khi thôn làm đường bê tông liên thôn, ông T khai thác keo đã yêu cầu ông để lại lối đi, gia đình ông chỉ nhất trí cho ông T đi nhờ nhưng phải đảm bảo không làm ảnh hưởng đến cây cối trên đất nhà ông. Tuy nhiên sau đó ông T yêu cầu ông phải để lại lối đi cho ông T sử dụng, ông không đồng ý nên hai bên sảy ra tranh chấp. Hai bên đã được chính quyền địa phương hòa giải nhưng không mang lại kết quả.
Nay ông T khởi kiện yêu cầu ông tháo dỡ, di dời toàn bộ cây trồng trên đất để trả lại diện tích lối đi, ông xác định không có lối đi nào trên phần diện tích đất ông đang quản lý, sử dụng. Trước đây chỉ có nhà ông T thỉnh thoảng đi trên bờ mương thoát nước để vào thửa đất ở khu L, ngoài ra không có ai đi lại. Diện tích bờ mương và cả mương thoát nước đều thuộc quyền quản lý, sử dụng của gia đình ông do gia đình ông đã quản lý, sử dụng trước khi thôn làm mương, sau này ông đã mua lại ao của thôn thì phần diện tích mương thoát nước này là của gia đình ông. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của ông T là không có căn cứ, ông không chấp nhận.
Trên diện tích lối đi có tranh chấp có tài sản là 02 cây vải trồng năm 1993. Ngoài ra không còn tài sản gì khác. Đây là tài sản của vợ chồng ông. Trong trường hợp yêu cầu khởi kiện của ông T được chấp nhận, ông phải trả lại diện tích lối đi thì tài sản trên đất đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tài liệu, chứng cứ ông Đ giao nộp gồm: 01 bản phô tô căn cước công dân, 01 giấy ủy quyền, 01 bản phô tô Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
Bà Phạm Thị N trình bày: Bà là vợ của ông Đàm Đình Đ, do bận công việc nên bà ủy quyền cho ông Đàm Đình Đ đại diện tham gia tố tụng, ý kiến của bà thống nhất với ý kiến ý kiến của ông Đ.
Ủy ban nhân dân xã Y trình bày: Gia đình ông Nịnh Văn T có 01 thửa đất ruộng ( thửa số 31, tờ bản đồ số 55) thuộc khu L, thôn T, xã Y (đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Trước đây, gia đình ông T vẫn thường sử dụng bờ mương thoát nước ao làng để đi lại cấy lúa trên thửa đất, mấy năm gần đây ông T không cấy lúa mà chuyển sang trồng keo trên thửa đất. Ông T cho rằng có lối đi từ trước rộng 2m đã bị ông Đ lấn chiếm nên yêu cầu ông Đ phải mở lại lối đi, ông Đ không nhất trí nên hai bên xảy ra tranh chấp.
Căn cứ vào hồ sơ quản lý đất đai lưu trữ tại đơn vị, kết quả xác minh tại địa phương, UBND xã Y khẳng định không có lối đi dân sinh nào nối từ đường bê tông liên thôn đi vào thửa đất ruộng tại khu L, thôn T của gia đình ông Nịnh Văn T. Bản đồ đo đạc địa chính của xã Y cũng không thể hiện có lối đi dân sinh nào nối vào thửa đất tại khu L của ông T.
Ở địa phương, đa phần các thửa đất ruộng đều không giáp lối đi, người dân khi canh tác thường sử dụng bờ ruộng thuận tiện nhất để đi lại. Nay ông T khởi kiện, đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đối với thửa đất của ông Đ đang quản lý chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo quy định của pháp luật, UBND xã Y có thẩm quyền quản lý thửa đất. Tuy nhiên, thửa đất này ông Đ đã quản lý, sử dụng ổn định, lâu dài, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất tại địa phương. Do vậy, UBND xã Y không có yêu cầu gì đối với thửa đất này của ông Đ.
UBND huyện S trình bày: Thửa đất số 18, tờ bản đồ 55 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, gia đình ông Đ đã quản lý, sử dụng thửa đất ổn định, lâu dài, việc sử dụng đất đảm bảo đúng quy hoạch đất tại địa phương, nên thửa đất vẫn thuộc quyền quản lý, sử dụng của gia đình ông Đ. UBND xã Y là cơ quan có thẩm quyền quản lý đất giao thông công cộng tại địa phương xác định không có lối đi dân sinh nào nằm trên thửa đất số 18 tờ bản đồ số 55 như ông T yêu cầu. Bản đồ địa chính xã Y lập năm 2009 cũng thể hiện không có lối đi này. Vì vậy, ông T cho rằng ông Đ lấn chiếm lối đi là không có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật. Việc Tòa án giải quyết tranh chấp lối đi không làm ảnh hưởng gì đến chính sách quản lý đất đai của UBND huyện S. Sau này, Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Đ có yêu cầu cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, UBND huyện S sẽ xem xét, giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 100 – Luật Đất đai.
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày 16/5/2023 xác định: Lối đi có tranh chấp có tứ cận như sau: Cạnh phía Đông giáp đường bê tông liên thôn, dài 2m; cạnh phía Tây giáp đoạn lối đi vào thửa đất của ông Nịnh Văn T, dài 2m; cạnh phía Nam dài 17,29m và cạnh phía Bắc dài 16,52m, đều giáp với thửa đất của ông Đàm Đình Đ. Lối đi có tranh chấp là Hình 1-2-7-8-1, diện tích 33,9m², trị giá: 33,9m² x 150.000đ/m² = 5.085.000đ. (Có sơ đồ kẻ vẽ kèm theo)
Trên đất có tài sản là 03 cây vải trồng năm 1993, đường kính tán 5m, trị giá 2.991.000đ/cây x 3 cây = 8.973.000đ.
Với nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số 26/2023/DS-ST ngày 11/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Sơn Động đã quyết định:
Áp dụng khoản 10 Điều 12, Điều 166, Điều 170, của Luật Đất đai 2013; Điều 169, Điều 174, Điều 175, Điều 176 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nịnh Văn T về việc yêu cầu ông Đàm Đình Đ phải trả lại 33,9m² lối đi có tranh chấp và yêu cầu di dời tài sản trên đất.
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, về án phí, quyền kháng cáo, quyền thi hành án đối với các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 22/8/2023, bị nguyên đơn ông Nịnh Văn T kháng cáo đề nghị tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện và đơn kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và cũng không cung cấp được thêm tài liệu, chứng cứ nào khác.
+ Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang phát biểu:
- Về tố tụng: Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và các đương sự đã chấp hành đầy đủ các trình tự, thủ tục của BLTTDS.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS không chấp nhận kháng cáo của ông T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là UBND huyện S đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa mở lần thứ hai. Tòa án xét xử vắng mặt UBND huyện S là đảm bảo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
- UBND xã Y là cơ quan có thẩm quyền quản lý đất giao thông công cộng trên địa bàn khẳng định không có lối đi dân sinh nào nối từ đường bê tông liên thôn vào thửa đất của ông T như ông T yêu cầu. Điều này cũng phù hợp với lời khai của một số người dân sinh sống lâu năm tại địa phương.
UBND huyện S khẳng định thửa đất số 18 tờ bản đồ số 55 mặc dù chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng gia đình ông Đ đã quản lý, sử dụng thửa đất ổn định, lâu dài, việc sử dụng đất đảm bảo đúng quy hoạch đất tại địa phương, nên thửa đất vẫn thuộc quyền quản lý, sử dụng của gia đình ông Đ.
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ xác định lối đi có tranh chấp mà ông T chỉ dẫn có diện tích 33,9m2, nằm trong thửa đất số 18, tờ bản đồ 55 của ông Đàm Đình Đ, trên đất có 03 cây vải trồng năm 1993. Thửa đất này của ông Đàm Đình Đ được xác định có nguồn gốc do bố mẹ ông Đ khai phá, gia đình ông Đ đã sử dụng lâu dài, ổn định, không có tranh chấp, được chính quyền địa phương và người dân thừa nhận
Xét thấy, các nội dung này phù hợp với lời khai của bị đơn ông Đàm Đình Đ xác định trước đây chỉ có nhà ông T thỉnh thoảng đi trên bờ mương thoát nước để vào thửa đất ở khu L, ngoài ra không có ai đi lại. Diện tích bờ mương và cả mương thoát nước đều thuộc quyền quản lý, sử dụng của gia đình ông do gia đình ông đã quản lý, sử dụng trước khi thôn làm mương, sau này ông đã mua lại ao của thôn thì phần diện tích mương thoát nước này là của gia đình ông. Không có đường dân sinh nào như ông T yêu cầu.
Nguyên đơn ông Nịnh Văn T trình bày lối đi nối từ đường bê tông liên thôn vào thửa đất khu L, thôn T, xã Y lối đi chung của người dân trong thôn đã có từ xưa, kích thước lối đi rộng khoảng 2m (xe trâu đi lại được). Do ông Đ trồng cây, đổ đất lấn chiếm nên ông không còn lối đi vào thửa đất của mình. Tuy nhiên, ngoài lời trình bày của mình, ông T chỉ đưa ra giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất của mình, 01 giấy xác nhận có chữ ký của một số người dân. Ngoài ra không có tài liệu, chứng cứ gì khác để chứng minh.
Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nịnh Văn T là không có căn cứ chấp nhận.
Ngoài những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, phía nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình.
- Về yêu cầu di dời tài sản trên đất tranh chấp: Do yêu cầu của ông T về việc yêu cầu ông Đàm Đình Đ trả lại 33,9m² diện tích lối đi không được chấp nhận nên yêu cầu di dời tài sản là cây vải trên đất của ông T cũng không được chấp nhận.
- Về việc ông T trình bày không có lối đi vào thửa đất của mình do bị vây bọc bởi các bất động sản liền kề, ông T có quyền khởi kiện yêu cầu mở lối đi theo quy định tại Điều 254 của Bộ luật Dân sự.
Từ những đánh giá trên, không căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nịnh Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm đã xử.
- Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét, giải quyết các quyết định khác của bản án sơ thẩm mà không có kháng cáo, kháng nghị.
- Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận ông Nịnh Văn T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, ông T là người dân tộc thiểu số, thường xuyên sinh sống ở vùng có điều kiện khó khăn, là thành viên hộ nghèo nên thuộc diện được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nịnh Văn T. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 26/2023/DS-ST ngày 11/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.
- Về án phí: Căn cư điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án
Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nịnh Văn T.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Quyết |
Bản án số 106/2024/DS-PT ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp lối đi chung
- Số bản án: 106/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp lối đi chung
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp lối đi chung
