|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 106/2024/HSST Ngày 09 - 12 - 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Huỳnh Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Xuân Minh.
- Ông Hồ Quang Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thêu - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Đặng Đàm Hoàng Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 110/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn K, sinh năm 2001 tại Cà Mau; Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: Ấp E, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh N và bà Huỳnh Thị H; vợ và con chưa có; tiền sự không, tiền án không; nhân thân tốt; bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 20/7/2024 sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. (Bị cáo có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 13/7/2024 Nguyễn Văn K có nhu cầu sử dụng ma túy, nên K dùng điện thoại hiệu Iphone 7 – sim số 0348.774.980 gọi cho người tên T (chưa rõ lai lịch) ở phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau mượn mua ma túy với số tiền 200.000 đồng. T đồng ý mua giúp K và hẹn tại khu vực gần cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh C để lấy ma túy.
Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày K đến khu vực Bệnh viện đa khoa tỉnh C liên hệ với T lấy ma túy. K gặp T gần cổng Bệnh viện thì T đưa cho K 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng được hàn kín 02 đầu (bên trong có ma túy đá), K giao cho T số tiền 200.000 đồng. Sau đó T bỏ đi, K điều khiển xe về cất giấu ma túy tại nhà.
Khoảng 10 giờ ngày 20/7/2024 K từ nhà ở ấp E, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau đi đến nhà của Võ Văn A ở ấp Ô, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau chơi, khi đi K bỏ đoạn ống hút chứa ma túy bên trong túi quần short đang mặc (với mục đích đến nhà A để sử dụng) thì bị Công an xã K kiểm tra phát hiện bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ: Phong bì màu trắng hình chữ nhật và đoạn ống nhựa dạng ống hút màu trắng dùng để chứa tinh thể màu trắng (được niêm phong trong phong bì hoàn mẫu số: 415/KL-KTHS ngày 27/7/2024); 01 điện thoại di động Iphone 7 màu đen có số Imei 354918093072952, bên trong có gắn 01 sim thuê bao số 0348.774.980 (đã qua sử dụng); 01 quần short vải kaki màu nâu (đã qua sử dụng); 01 áo thun dài tay màu đen (đã qua sử dụng). Tất cả các vật chứng hiện nay Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Cà Mau đang quản lý.
Tại kết luận giám định số: 415/KL-KTHS ngày 27/7/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh C, kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong đoạn ống nhựa dạng ống hút màu trắng hàn kín hai đầu, niêm phong trong phong bì màu trắng hình chữ nhật gửi giám định là ma túy (có khối lượng 0,1514 gam loại Methamphetamine – Là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247 Nghị định số: 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ)”.
Từ những nội dung trên bản cáo trạng số: 108/CT-VKS ngày 11 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà May truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội theo như bản cáo trạng truy tố nêu trên. Số ma túy thu giữ trên người bị cáo K qua giám định xác định có khối lượng 0,1514 gam loại Methamphetamine, bị cáo thống nhất không có ý kiến. Bị cáo không xin lại điện thoại di động đã bị thu giữ; Đối với 01 quần short vải kaki màu nâu và 01 áo thun dài tay màu đen (đã qua sử dụng) không yêu cầu nhận lại, đề nghị tịch thu và tiêu huỷ.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Hành vi phạm tội của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy, do đó giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Văn K và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn K mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Về xử lý vật chứng đề nghị áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu và tiêu hủy 01 phong bì hoàn mẫu niêm phong số: 415/KL-KTHS ngày 27/7/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh C được niêm phong kín, mặt trước có dấu tròn màu đỏ, mặt sau có 07 dấu tròn màu đỏ và tên chữ ký Trần Anh K1, Quách Minh T1; tịch thu và tiêu hủy 01 quần short vải kaki màu nâu và 01 áo thun dài tay màu đen (đã qua sử dụng); tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 7 màu đen có số Imei 354918093072952, bên trong có gắn 01 sim thuê bao số 0348.774.980 (đã qua sử dụng).
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời nói sau cùng bị cáo do không hiểu biết, nên mới phạm tội, bị cáo ăn năn hối cải về hành vi của bị cáo, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Cà Mau, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Cà Mau, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 13/7/2024 K dùng điện thoại hiệu Iphone 7 – sim số 0348.774.980 gọi cho người tên T (chưa rõ lai lịch) ở phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau mượn mua ma túy với số tiền 200.000 đồng, đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày K liên hệ với T và đi đến gần cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh C thì T đưa cho K 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng được hàn kín 02 đầu (bên trong có ma túy đá), K giao cho T số tiền 200.000 đồng, sau đó T điều khiển xe về cất giấu ma túy tại nhà. Đến khoảng 10 giờ ngày 20/7/2024 K từ nhà ở ấp E, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau đi đến nhà của Võ Văn A ở ấp Ô, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau chơi, khi đi K bỏ đoạn ống hút chứa ma túy bên trong túi quần short đang mặc (với mục đích đến nhà A để sử dụng) thì bị Công an xã K kiểm tra phát hiện bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Lời khai của bị cáo là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.
Tại kết luận giám định số: 415/KL-KTHS ngày 27/7/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh C, kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong đoạn ống nhựa dạng ống hút màu trắng hàn kín hai đầu, niêm phong trong phong bì màu trắng hình chữ nhật gửi giám định là ma túy (có khối lượng 0,1514 gam loại Methamphetamine – Là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247 Nghị định số: 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ)”. Bị cáo thống nhất và không có ý kiến đối với kết luận giám định.
Việc phạm tội của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp, do cần ma túy để sử dụng nên bị cáo đã liên hệ với đối tượng tên T mua và cất giữ ma túy tại nhà, sau đó cất ma túy vào túi quần short của bị cáo đang mặc đến nhà Võ Văn A để nhằm mục đích sử dụng thì bị Công an xã K kiểm tra phát hiện và bắt giữ. Trước, trong và sau khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực và độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra.
Từ những phân tích, lập luận, đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn K đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự trị an ở địa phương, bị cáo biết và nhận thức được chất ma túy là chất cấm và chịu sự quản lý độc quyền của Nhà nước, hậu quả của việc sau khi sử dụng trái phép chất ma túy là vô cùng nguy hiểm cho xã hội và sức khỏe của chính bản thân bị cáo, đồng thời việc sử dụng trái phép chất ma túy là mầm móng cho các loại tội phạm khác có thể xảy ra. Nhưng chỉ vì muốn sử dụng trái phép chất ma túy để thỏa mãn thú vui cho bản thân mà bị cáo đã sẵn sàng mua và cất giữ trên người để nhằm mục đích sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo rất đáng để lên án điển hình trong công tác đấu tranh, ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm về ma túy hiện nay. Tình hình tội phạm về ma túy hiện nay ngày càng gia tăng và diễn biến hết sức phức tạp trong cả nước nói chung và trên địa bàn huyện T, tỉnh Cà Mau nói riêng; để đảm bảo công tác đấu tranh và phòng chống có hiệu quả đối với các loại tội phạm (trong đó có tội phạm về ma túy), nên cần xử lý nghiêm đối với hành vi phạm tội của bị cáo để nhằm mục đích răn đe, giáo dục chung cho toàn xã hội.
Khi xem xét mức hình phạt đối với bị cáo thì Hội đồng xét xử có xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy rằng bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt; bị cáo không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự, về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo; ông bà nội của bị cáo tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước và được tặng huân chương là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ các căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn K mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tù là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần chấp nhận và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cải tạo và sửa đổi bản thân để trở thành một người công dân tốt cho gia đình và xã hội khi tái hòa nhập lại với cộng đồng sau này.
Đối với Võ Văn A, Tạ Văn V, Thái Trọng N1 và Lê Vũ S không có căn cứ chứng minh biết việc K tàng trữ trái phép chất ma túy trong người, nên không xem xét trách nhiệm hình sự trong vụ án là đúng; đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của K, A, V, N1 và S Công an huyện Trần Văn T2, tỉnh Cà Mau đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng; đối với đối tượng tên T người mua ma túy giúp cho K, hiện nay chưa xác định được lai lịch, nên cơ quan điều tra tách ra tiếp tục điều tra, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp.
[4] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
+ Đối với 01 phong bì hoàn mẫu niêm phong số: 415/KL-KTHS ngày 27/7/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh C được niêm phong kín, mặt trước có dấu tròn màu đỏ, mặt sau có 07 dấu tròn màu đỏ và tên chữ ký Trần Anh K1, Quách Minh T1; 01 quần short vải kaki màu nâu và 01 áo thun dài tay màu đen (đã qua sử dụng) không có giá trị và không sử dụng được nên cần tịch thu và tiêu hủy;
+ Đối với 01 điện thoại di động Iphone 7 màu đen có số Imei 354918093072952, bên trong có gắn 01 sim thuê bao số 0348.774.980 (đã qua sử dụng), bị cáo K dùng làm phương tiện liên lạc để mua ma tuý, nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là đúng;
[5] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 20/7/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- + Tịch thu và tiêu hủy 01 phong bì hoàn mẫu niêm phong số: 415/KL-KTHS ngày 27/7/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh C được niêm phong kín, mặt trước có dấu tròn màu đỏ, mặt sau có 07 dấu tròn màu đỏ và tên chữ ký Trần Anh K1, Quách Minh T1; 01 quần short vải kaki màu nâu và 01 áo thun dài tay màu đen của Nguyễn Văn K (đã qua sử dụng);
- + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 7 màu đen có số Imei 354918093072952, bên trong có gắn 01 sim thuê bao số 0348.774.980 của Nguyễn Văn K (đã qua sử dụng);
(Các vật chứng hiện nay Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Cà Mau đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/11/2024).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn K phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Huỳnh Hải |
Bản án số 106/2024/HSST ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 106/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo 01 năm tù
