Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN PHONG THỎ

TỈNH LAI CHÂU

Bản án số: 106/2024/HS-ST

Ngày 09- 9 -2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Tuyết Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ngô Văn Thế

2. Ông Lý Quang Minh

Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Đoàn - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 102/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2024/QĐXXST-HS ngày 29/8/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lý Diếu H; giới tính: Nam; sinh năm 1958; Nơi sinh: huyện P, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản M, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Con ông Lý Vần D, đã chết và con bà Phàn San M, đã chết; Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Phàn Tả M1, sinh năm 1958; Con có 06 con: con lớn nhất sinh năm 1976, con nhỏ nhất sinh năm 1990; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/4/2024 đến ngày 25/4/2024 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu cho đến nay. Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Công H1 -Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lý Diếu H khai bản thân là người nghiện chất ma túy nên khoảng 12 giờ ngày 16/4/2024, khi đang ở lán nương của gia đình tại bản Ma Can, xã D thì có một người đàn ông không rõ lai lịch đến gặp. Qua nói chuyện, người đàn ông đó nói có Heroine bán và thỏa thuận giao dịch tại khu vực N thuộc bản M, xã D, huyện P. Khi đến khu vực N, H mua của người đàn ông đó 01 gói Heroin, được gói bằng mảnh nilon màu trắng giá 1.000.000 đồng để sử dụng. Mua được H2, H cất giấu trong túi quần bên trái đang mặc rồi đi về. Hồi 12 giờ 45 phút ngày 16/4/2024, khi Lý Diếu H đi đến bản M, xã D, huyện P thì bị Đồn Biên phòng D1, Bộ đội Biên phòng tỉnh L phát hiện bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, H đã tự lấy gói Heroine trong túi quần giao nộp cho lực lượng Biên phòng.

Tại bản Kết luận giám định số 437/KL-KTHS ngày 17/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: chất bột màu trắng gửi giám định có khối lượng là 1,23 gam; 01 mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine.

Bản cáo trạng số 56/CT-VKSPT ngày 05/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo Lý Diếu H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về bản kết luận điều tra số 52/KLĐT ngày 17/7/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện P và bản Cáo trạng nêu trên.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 20 đến 26 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự và xử lý vật chứng theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt do bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, bị cáo không biết chữ, là người cao tuổi và đặc biệt nơi ở của bị cáo rất xa so với trung tâm xã nên nhận thức pháp luật rất hạn chế; khi bị công an phát hiện đã tự giác giao nộp toàn bộ số Heroin, bị cáo được tặng kỷ niệm chương vì chủ quyền an ninh biên giới và kỷ niệm C và đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo do bị cáo thuộc hộ nghèo và sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ và nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo.

Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: hồi 12 giờ 45 phút ngày 16/4/2024, tại bản M, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu, bị cáo Lý Diếu H đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 1,23 gam, mục đích để sử dụng thì bị Đ Biên phòng Dào San bắt quả tang. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, quan điểm đề nghị về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do bị cáo nghiện ma túy đã lâu nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nên cần được xử lý nghiêm minh.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, bị cáo không được đi học nên không biết chữ; khi công an phát hiện bắt quả tang xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu bằng test nhanh kết quả xác định trong nước tiểu của bị cáo phát hiện có ma túy nhóm O (M, H2).

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, là người cao tuổi sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; Năm 1995, bị cáo được Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng tặng kỷ niệm chương vì chủ quyền an ninh biên giới; Năm 2023, được Ban Năm tặng Kỷ niệm chương Cựu chiến binh Việt Nam. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với đề nghị của người bào chữa về việc áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự do bị cáo tự giác giao nộp số Heroin cho cơ quan công an Hội đồng xét xử không chấp nhận vì việc bị cáo tự giác giao nộp số Heroin cho công an không phải là việc bị cáo giúp cơ quan phát hiện ra một vụ án khác hoặc đồng phạm khác.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Do đó, đề nghị của người bào chữa về mức hình phạt đối với bị cáo Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng bị cáo nghề nghiệp làm ruộng, nguồn thu thấp. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng của vụ án:

Đối với 1,23 gam Heroine thu giữ của bị cáo, đã trích 0,17 gam gửi giám định chất ma túy, không hoàn lại mẫu vật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vật chứng còn lại của vụ án gồm: 1,06 gam Heroine là vật Nhà nước cấm lưu hành, 01 mảnh nilon màu trắng và 01 phong bì niêm phong đã mở đều không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[6] Những vấn đề liên quan:

Về nguồn gốc ma túy, bị cáo khai mua của một người không rõ lai lịch. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.

[7] Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn và gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý Diếu H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 20 (Hai mươi) tháng tù, trừ 09 (Chín) ngày tạm giữ, còn lại 19 (Mười chín) tháng 21 (Hai mươi mốt) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt vào trại chấp hành hình phạt.
  3. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
  4. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 1,06 gam chất bột màu trắng được gói trong mảnh giấy, 01 mảnh nilon (dạng túi zip), 02 phong bì niêm phong đã mở.

    (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 15 giờ phút ngày 11/9/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ).

  5. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Phong Thổ;
  • - Chi Cục THADS huyện Phong Thổ;
  • - CQCS ĐT Công an huyện Phong Thổ;
  • - CQ THAHS Công an huyện Phong Thổ;
  • - Trại tạm giam công an tỉnh Lai Châu.
  • - Đồn biên phòng Dào San;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa:
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Tuyết Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 106/2024/HS-ST ngày 09/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 106/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lý Diếu Hộ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger