Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2024/HS-ST

Ngày: 06/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH TIỀN GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Anh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Thành Trại
  2. Ông Châu Bích Phượng

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Mai Chi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Phạm Chí Thiện, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 87/2024/HSST ngày 27 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa ra vụ án xét xử số 100/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Huỳnh Thị H;Giới tính: Nữ; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1993, tại tỉnh Kiên Giang; Nơi thường trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; CCCD số: [...], cấp ngày 22/11/2022. Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: không đi học nhưng biết chữ, ký tên và ghi họ tên; Con ông Huỳnh Văn B (đã chết) và bà Huỳnh Thị L (đã chết); C là Phan Văn H1; Bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ từ ngày 17/3/2024, chuyển tạm giam từ ngày 20/3/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Đồng Nguyên T, sinh năm 1979. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiên Giang (vắng mặt).

* Người làm chứng: Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1980. Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn T, huyện C, tỉnh Tiên Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo lời khai của Huỳnh Thị H, vào chiều tối ngày 16/3/2024, H sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng gọi điện thoại cho một người phụ nữ (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể, có lưu tên trong danh bạ điện thoại nhưng điện thoại đã bị đập bể) để hỏi mua ma túy với giá 400.000 đồng thì được người nữ này đồng ý rồi hẹn với H giao ma túy ở khu vực vòng xoay thuộc tỉnh Long An. H bắt xe mô tô khách đến điểm hẹn tại vòng xoay thuộc tỉnh Long An thì được người nữ này chỉ dẫn đi đến bụi cỏ ven đường để lấy ma túy đã để sẵn từ trước rồi để lại số tiền 400.000 đồng. Sau khi có được ma túy, H quay trở về phòng số 5 của nhà nghỉ “Thụy Vân” tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang cất giấu để sử dụng.

Đến khoảng 18 giờ ngày 17/3/2024, H lấy ma túy ra sử dụng. Sau khi sử dụng xong một ít, số ma túy còn lại trong 02 túi nylon màu trắng, dạng túi zip, được dán kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi vấn là ma túy H đem đến Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang giao nộp để tự thú. Trong lúc giao nộp số ma túy này, H đã làm rơi một phần tinh thể màu trắng trên bàn, số tinh thể màu trắng này được cho vào 01 túi nylon dạng túi zip có viền màu đỏ một đầu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang tiến hành lập biên bản tiếp nhận người phạm tội ra tự thú.

* Tại Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra tự thú vào lúc 18 giờ 40 phút ngày 17/3/2024 tại Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang ghi nhận: Vào hồi 18 giờ 30 phút ngày 17/3/2024, Huỳnh Thị H, sinh năm: 1993, nơi thường trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang đến Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang đến tự thú về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình và giao nộp tang vật. Theo trình bày của H thì tất cả số tinh thể màu trắng đã giao nộp đó là ma túy H mua về để sử dụng.

* Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 17/3/2024 tại nhà nghỉ T1 thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang ghi nhận:

Hiện trường nơi phát hiện vụ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là tại nhà nghỉ T1 thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Hiện trường được xác định như sau:

- Hướng Nam giáp với doanh nghiệp tư nhân M;

- Hướng Đông giáp với đường tỉnh lộ 866;

- Hướng Bắc giáp với nhà của người dân;

- Nhà nghỉ T1 được xây dựng kiên cố bằng vách tường, mái tole, nền gạch men, gồm có hai dãy phòng được xây dựng song song nhau và chạy dài từ hướng Đông sang hướng Tây, nhà nghỉ T1 có một cổng chính ra vào quay mặt về hướng Đ (hướng ra đường tỉnh lộ 866). Dãy phòng hướng Nam cửa nhà nghỉ T1 có các cửa ra vào đều quay mặt về hướng Bắc và được đánh số thứ tự lần lượng là 02, 04, 06, 08, 10, 12, 14 (tính từ hướng Đông sang hướng Tây). Dãy phòng hướng Bắc của nhà nghỉ T1 có các cửa ra vào các phòng đều quay mặt về hướng Nam và được đánh số thứ tự lần lượt các phòng từ 01, 03, 05, 07, 09, 11, 13 (chạy dài từ hướng Đông sang hướng Tây). Tiến hành ghi nhận như sau: Phòng số 05 có kích thước (5 x 4,5)m và có một cửa ra vào phòng quay mặt về hướng N (ký hiệu là (1) trong sơ đồ), cửa ra vào phòng số 05 làm bằng gỗ, có 01 cánh cửa có kích thước là (02 x 0,8)m. Từ cửa chính ra vào phòng số 05 (ký hiệu là (1) trong sơ đồ) đi thẳng về hướng Bắc 2,50m sau đó đi vuông góc về hướng Đông 02m tại vị trí này bên trong phòng số 05 có một chiếc bàn gỗ (ký hiệu là (2) trong sơ đồ), chiếc ghế gỗ này có mặt ghế là hình tròn có đường kính là 0,6m và chân ghế cao 0,8m. Kiểm tra trên mặt bàn gỗ này có một chai nhựa trong suốt có nắp đậy màu trắng, trên nắp đậy màu trắng có gắn 01 (một) đoạn ống nhựa màu cam (dạng ống hút) và 01 (một) đoạn ống thủy tinh được uốn cong một đầu dạng phễu (bộ D1 sử dụng ma túy) cũng từ cửa chính ra vào phòng số 05 (ký hiệu là (4) trong sơ đồ) đi thẳng về hướng Bắc 3,98m kiểm tra tại vị trí này trên nền gạch bên trong phòng số 05 có một điện thoại di động và một ốp lưng nhựa màu đen (ký hiệu (3) trong sơ đồ), điện thoại di động mặt kính màu đen và mặt lưng của điện thoại có dòng chữ “OPPO” (không kiểm tra tình trạng bên trong của máy, mặt trong của ốp lưng nhựa màu đen có dòng chữ và số “OP-REN 08-5G”, khu vực phát hiện một điện thoại di động và một ốp lưng màu đen là trên nền gạch phía trước cửa ra vào phòng vệ sinh bên trong phòng số 05.

* Vật chứng thu giữ khi tự thú gồm: 03 túi nylon màu trắng (dạng túi Zíp được dán kín), bên trong mỗi túi nylon đều có chứa tinh thể màu trắng, nghi vấn ma túy, được niêm phong trong bì thư kí hiệu PS3; 2137267, bên ngoài có chữ ký của Huỳnh Thị H.

* Vật chứng thu giữ khi khám nghiệm hiện trường gồm: 01 chai nhựa màu trắng có nắp đậy, trên nắp có gắn một đoạn ống nhựa màu cam và một đoạn ống thủy tinh được uốn cong một đầu có hình tròn dạng phễu; 01 điện thoại di động mặt kính màu đen và mặt lưng có dòng chữ OPPO; 01 ốp lưng nhựa màu đen, mắt trong của ốp lưng có dòng chữ và số “OP-RENT 08-5G”.

* Tại Bản kết luận giám định số 44/KL-KTHS ngày 19/3/2024 của Phòng kỹ thuận hình sự Công an tỉnh T kết luận: Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,8617 gam, loại Methamphetamine. Trong đó: mẫu ký hiệu M1 có khối lượng 0,0760 gam; mẫu ký hiệu M2 có khối lượng 0,4115 gam và mẫu ký hiệu M3 có khối lượng 0,3742 gam.

* Tại bản cáo trạng số 93/CT-VKSCT ngày 27/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố bị cáo Huỳnh Thị H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa,

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Huỳnh Thị H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị H từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ thời điểm bắt tạm giữ là ngày 17/3/2024.
  • - Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định được chứa trong 01 túi được niêm phong kí hiệu vụ số: 44 ghi ngày 19 tháng 3 năm 2024; có các chữ kí in họ tên: Huỳnh Tấn L1 (Giám định viên), Trần Thanh D (Trợ lí giám định viên), chữ kí ghi họ tên: Nguyễn Ngọc Đ1 (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG; 01 chai nhựa màu trắng có nắp đậy, trên nắp có gắn một đoạn ống nhựa màu cam và một đoạn ống thủy tinh được uốn cong một đầu có hình tròn dạng phễu; 01 điện thoại di động mặt kính màu đen và mặt lưng có dòng chữ

OPPO; 01 ốp lưng nhựa màu đen, mắt trong của ốp lưng có dòng chữ và số "OP-RENT 08-5G" .

Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

* Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, các đương sự, nhân chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo. Xét thấy:

Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Thị H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo cho rằng do nghiện ma túy nên sau khi sử dụng còn lại một phần bị cáo đem đến Công an huyện C để giao nộp.

Lời khai nhận tội trên của bị cáo cơ bản đã phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của người làm chứng và các lời khai trước đây của bị cáo tại cơ quan điều tra, cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã đủ cơ sở xác định bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy, bị cáo là người đã thành niên, có sức khoẻ và khả năng nhận thức về hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ các chất ma túy là vi phạm pháp luật. Thế nhưng, để thõa mãn nhu cầu của cá nhân, bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép các chất ma túy để sử dụng. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi mà mình đã gây ra.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được chất ma túy là chất gây nghiện, khi sử dụng sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần của người sử dụng, là nguồn gốc phát sinh các tệ nạn xã hội, các loại tội phạm, xâm phạm đến quyền quản lý của nhà nước về các chất gây nghiện, nó cũng là nguyên nhân gây ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khoải xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo trở thành người có ích trong xã hội và phòng ngừa chung cho các đối tượng khác.

Tuy nhiên, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tự thú về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, Hội đồng xét thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Đối tượng bị cáo cho rằng cung cấp ma túy cho bị cáo, hiện chưa cung cấp được thông tin cụ thể, nên chưa có cơ sở để xử lý.

[4] Về xử lý vật chứng:

- Số ma túy còn lại sau giám định được chứa trong 01 túi được niêm phong kí hiệu vụ số: 44 ghi ngày 19 tháng 3 năm 2024; có các chữ kí in họ tên: Huỳnh Tấn L1 (Giám định viên), Trần Thanh D (Trợ lí giám định viên), chữ kí ghi họ tên: Nguyễn Ngọc Đ1 (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG; 01 chai nhựa màu trắng có nắp đậy, trên nắp có gắn một đoạn ống nhựa màu cam và một đoạn ống thủy tinh được uốn cong một đầu có hình tròn dạng phễu; 01 điện thoại di động mặt kính màu đen và mặt lưng có dòng chữ OPPO; 01 ốp lưng nhựa màu đen, mắt trong của ốp lưng có dòng chữ và số “OP-RENT 08-5G”. Đây là vật chứng liên quan đến việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[5] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.

* Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về Hình phạt

- Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s, r khoản 1 và Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử: Phạt bị cáo Huỳnh Thị H 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/3/2024.

2. Về vật chứng:

- Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định được chứa trong 01 túi được niêm phong kí hiệu vụ số: 44 ghi ngày 19 tháng 3 năm 2024; có các chữ kí in họ tên: Huỳnh Tấn L1 (Giám định viên), Trần Thanh D (Trợ lí giám định viên), chữ kí ghi họ tên: Nguyễn Ngọc Đ1 (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG; 01 chai nhựa màu trắng có nắp đậy, trên nắp có gắn một đoạn ống nhựa màu cam và một đoạn ống thủy tinh được uốn cong một đầu có hình tròn dạng phễu; 01 điện thoại di động mặt kính màu đen và mặt lưng có dòng chữ OPPO; 01 ốp lưng nhựa màu đen, mắt trong của ốp lưng có dòng chữ và số "OP-RENT 08-5G".

(Các vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/8/2024).

3. Về án phí: Bị cáo Huỳnh Thị H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người vắng mặt hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND h. Châu Thành;
  • - Công an h. Châu Thành;
  • - Chi cục THADS h. Châu Thành;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

Bùi Anh Tuấn

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 106/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH TIỀN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 106/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Huỳnh Thị H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger