|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 106/2024/HS-ST Ngày: 02-08-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Đức Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Minh Tuấn
Ông Bùi Hoàng Nguyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Phương – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng - Kiểm sát viên
Trong ngày 02 tháng 08 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 96/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Thị Thu N; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Móm; Sinh ngày: 16/05/1989; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 6 T, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện tại: Không có nơi cư trú ổn định; Trình độ học vấn: 4/12; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Quan hệ gia đình: Cha: Phạm Văn C; sinh năm: 1959, (còn sống); Mẹ: Nguyễn Thị Bạch Y - sinh năm: 1949, (chết); Bị cáo không có chồng; Bị cáo có 05 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 1016; Bị cáo là con thứ ba trong gia đình có bốn anh chị em.
Nhân thân: - Ngày 07/07/2005, “Mua bán trái phép chất ma túy” bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù giam theo Bản án số: 211/HSST ngày 27/10/2005; Bị cáo chấp hành án, đến ngày 02/09/2007 hết án tha; Bị cáo đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 30/8/2006.
- Ngày 18/03/2020 bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành H ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 21 tháng, theo Quyết định số 146/QĐ-TA. Chấp hành đến ngày 15/12/2021 xong.
Tiền án, tiền sự: Không có;
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/01/2024 tại Nhà tạm giữ Công an Q. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phạm Văn C – sinh năm 1959 (có mặt)
Địa chỉ thường trú: 6 T, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh
- Bà Phạm Thị Thanh H – sinh năm 1987 (vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: 6 T, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 13 giờ 40 phút ngày 25/01/2024, tại trước nhà số F Đ, Phường A, Quận A, Tổ tuần tra Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Q phát hiện Phạm Thị Thu N đang điều khiển xe mô tô biển số 59L1-210.43, có biểu hiện nghi vấn nên mời về trụ sở Công an P, Quận A để kiểm tra. Qua kiểm tra, thu giữ trong túi áo khoác của N 01 bao lì xì màu đỏ, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu và 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng, N khai nhận là ma túy, mang đi bán kiếm lời. Công an P, Quận A lập biên bản thu giữ vật chứng và biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phạm Thị Thu N chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q xử lý.
Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Thị Thu N, tại số E T, Phường A, Quận H, thu giữ: Trên vách tường tại phòng ngủ ngay cửa ra vào 01 gói nylon chứa tinh thể không màu; trên đầu tủ quần áo 01 hộp nhựa, bên trong có 05 gói nylon chứa tinh thể không màu và 06 gói nylon chứa chất bột màu trắng; Trong phòng thờ 01 túi nylon màu đen, bên trong có: 02 nỏ thủy tinh, 01 cân điện tử, 10 gói nylon rỗng và 02 ống hút nhựa; dưới sàn phòng thờ 01 túi vải màu xám, bên trong có: 01 hộp nhựa màu hồng đựng 02 gói nylon chứa tinh thể không màu, 01 cân điện tử, 01 kéo kim loại, 01 muỗng nhỏ, 01 đoạn ống hút nhựa chặt nhọn 1 đầu, 20 gói nylon rỗng. N khai các tinh thể không màu và chất bột mau trắng đều là ma tuý của N mua để bán lại cho người nghiện kiếm lời.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q trưng cầu giám định tinh thể không màu và chất bột màu trắng đã thu giữ trong người của Phạm Thị Thu N, theo Kết luận giám định số 1924/KL-KTHS ngày 02/02/2024 của Phòng K (PC09) Công an Thành phố H:
“Gói 1: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m1 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5426g, loại Methamphetamine.
Gói 2: Bột màu trắng được ký hiệu mẫu m2 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3799 gram, loại Heroine”.
Cơ quan Cảnh sát điều tra trưng cầu giám định tinh thể không màu và chất bột màu trắng đã thu giữ qua khám xét nơi ở của Phạm Thị Thu N, theo Kết luận giám định số 1926/KL-KTHS ngày 02/02/2024 của Phòng K (PC09) Công an T:
“Gói 1: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m1 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2596g, loại Methamphetamine.
Gói 2: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m2 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,0628g, loại Methamphetamine.
Gói 3: Bột màu trắng được ký hiệu mẫu m3 cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,9469 gram, loại Heroine
Gói 4: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m4 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 7,4306g, loại Methamphetamine”.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, bị cáo Phạm Thị Thu N khai nhận: Bắt đầu mua bán ma tuý từ đầu tháng 01 năm 2024, bị cáo N mua ma tuý của của một người phụ nữ (không rõ lai lịch), tại khu vực đường H, Quận H, bán lại cho những người nghiện kiếm lời. Khoảng 12 giờ 38 phút ngày 25/01/2024, có một người tên H1 (không rõ lai lịch), sử dụng số điện thoại 0943.630.xxx, gọi điện thoại cho bị cáo N hỏi mua 01 gói ma túy đá với giá 500.000 đồng và 01 gói ma tuý loại Heroin với giá 500.000 đồng, cả hai hẹn giao nhận ma tuý tại đầu hẻm F Đ, Phường A, Quận A, N đồng ý bán. N điều khiển xe môtô biển số 59L1-210.43 đến khu vực đường H, Quận H, mua 01 gói ma túy đá với giá 400.000 đồng và 01 gói Heroin với giá 450.000 đồng của người phụ nữ (không rõ lai lịch). N bỏ 02 gói ma túy vừa mua vào bao lì xì màu đỏ, cất vào túi áo khoác. Sau đó, N mang ma tuý tới điểm hẹn để giao nhưng chưa giao được thì bị phát hiện bắt giữ. Số ma túy bị thu giữ tại nơi ở, là của bị cáo N mua của người phụ nữ nêu trên vào ngày 22/01/2024 tại ngã ba đường H và C, Phường A, Quận H với giá 4.000.000 đồng, mang về nhà cất trữ, để bán lại cho người nghiện kiếm lời. N thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy từ đầu tháng 01/2024 . Trước đó, N đã bán ma tuý cho H1 được 02 lần; Số tiền N thu lợi bất chính được khoảng 2.000.000 đồng, đã tiêu xài cá nhân hết.
Cơ quan điều tra đã xác minh người phụ nữ bán ma tuý cho bị cáo N, theo kết quả xác minh của Công an P1, Quận H chưa xác định được người phụ nữ có đặc điểm nhận dạng như mô tả của bị cáo N.
Cơ quan điều tra đã có văn bản đề nghị Trung tâm D xác định chủ thuê bao, sử dụng số điện thoại 0943.630.xxx, nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả.
Tài sản, vật chứng thu giữ:
- 02 gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và cán bộ điều tra, ghi vụ 1924 (622/24) (gói 1) bên trong chứa 0,4936g ma túy loại Methamphetamine (mẫu vật hoàn lại sau giám định) và ghi vụ 1924 (622/24) (gói 2) bên trong chứa 0,3279g ma túy loại Heroine (mẫu vật hoàn lại sau giám định).
- 04 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên, cán bộ điều tra, có ghi vụ 1926 (623/24) (gói 1) bên trong có 0, 1641g ma túy loại Methamphetamine (mẫu vật hoàn lại sau giám định); ghi vụ 1926 (623/24) (gói 2), bên trong có 0,9520g ma túy loại Methamphetamine (mẫu vật hoàn lại sau giám định); ghi vụ 1926 (623/24) (gói 3), bên trong có 0,8615g ma túy loại H2 (mẫu vật hoàn lại sau giám định); ghi vụ 1926 (623/24) (gói 4), bên trong có 7,1001g ma túy loại Methamphetamine (mẫu vật hoàn lại sau giám định).
- 01 ĐTDĐ Xiaomi màu xanh, số I: 867824061862285/00; 02 cân điện tử, bị can N sử dụng vào việc phạm tội.
+ 02 nỏ thủy tinh, 01 muỗng nhỏ, 01 cây kéo, 01 đoạn ống hút nhựa cắt nhọn một đầu, 30 gói nylon rỗng, 01 hộp nhựa màu hồng, 01 bao lì xì bằng giấy màu đỏ, 02 ống hút nhựa.
+ 01 xe mô tô biển số 59L1-21043, số khung: RLGKA12HDBD053515, số máy: VMVTBBD053515. Kết quả giám định, xác minh xe do chị Phạm Thị Thanh H là chủ sở hữu. Ông Phạm Văn C - là cha ruột của chị Phạm Thị Thanh H và bị cáo Phạm Thị Thu N, khai: Đầu năm 2023, chị Phạm Thị Thanh H đã sang S sinh sống và làm việc nên giao xe mô tô lại cho ông C quản lý, sử dụng. Ông C cho bị caó N mượn sử dụng nhưng không biết việc N dùng xe làm phương tiện phạm tội.
Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 chuyển các vật chứng trên đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý
Tại Cáo trạng số 93/CT-VKSQ10 ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 Thành Phố Hồ Chí Minh đã truy tố: Bị cáo Phạm Thị Thu N đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm p, khoản 2, Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Văn C trình bày: Ông là cha ruột của bị cáo N . Chiếc xe máy biển số 59L1-21043 là tài sản của chị ruột của N tên Phạm Thị Thanh H giao cho ông quản lý sử dụng để chạy xe ôm và đưa các cháu đi học sau khi H đi nước ngoài. Tại phiên tòa ông có yêu cầu được nhận lại chiếc xe mô tô biển số 59L1-21043 để ông tiếp tục quản lý, sử dụng do ông không biết việc bị cáo N mượn chiếc xe này để đi bán ma túy.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, sau khi nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) của bị cáo; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm p khoản 2, Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Phạm Thị Thu N, xử phạt bị cáo: Phạm Thị Thu N từ 09 (chín) năm đến 10 (mười) năm tù.
Phạt bổ sung bị cáo N số tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.0000 đồng.
Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thống nhất với nội dung cáo trạng, không tranh luận với nội dung luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 10 và xin giảm nhẹ hình phạt.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:
Tại Cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình. Qua lời khai nhận của bị cáo, biên bản phạm tội quả tang, bản kết luận giám định cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Vào lúc 13 giờ 40 ngày 25/01/2024 tại trước số nhà F Đ, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh bị cáo N có hành vi cất giữ trái phép trong người 0,5426g ma túy, loại Methamphetamine, và 0,3799g Heroine. Qua khám xét tại nơi ở của bị cáo N thu giữ thêm 8,7530 g ma túy loại Methamphetamine và 1,3268g ma túy loại Heroine.
Như vậy, tổng số ma tuý thu giữ được của bị cáo N đã cất giữ trái phép trong người và tại nơi ở là 9,2956g ma tuý rắn loại Methamphetamine và 1,3268g ma tuý rắn loại Heroine.
Qua các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa thể hiện toàn bộ số ma túy này, bị cáo N cất giữ với mục đích để bán lại cho người khác để kiếm lời. Số tiền thu lợi bất chính bị cáo N khai là 2.000.000 đồng. Trong vụ án này, qua kết quả giám định thể hiện bị cáo N cất giữ trái phép 02 chất ma túy là Methamphetamine và Heroine nên bị cáo N bị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử nhận định hành vi của bị Phạm Thị Thu N đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm p, khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 truy tố bị cáo Phạm Thị Thu N về tội danh, mức độ hành vi phạm tội và điều luật áp dụng như đã nêu ở trên là có căn cứ, đúng quy định của luật.
[4] Ma túy là mối hiểm họa cho gia đình và xã hội, nó đã lây lan và phát triển một cách nghiêm trọng, làm suy đồi và băng hoại nhân cách con người, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tội phạm hình sự khác. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, nên hành vi này cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; Cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự.
[5] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- Tình tiết tăng nặng: Không có
- Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu khi đã từng có tiền án, tiền sự liên quan đến ma túy.
- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 phạt bổ sung bị cáo N số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
[6] Vấn đề khác:
- Đối với người phụ nữ bán ma tuý cho bị cáo N, theo kết quả xác minh chưa xác định được người phụ nữ có đặc điểm nhận dạng như mô tả của bị can N., đề nghị cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.
Cơ quan điều tra đã có văn bản đề nghị Trung tâm D xác định chủ thuê bao, sử dụng số điện thoại 0943.630.xxx, nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả nên Đề nghị cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.
[7] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
[7.1] Tịch thu tiêu hủy đối với:
- 02 gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và cán bộ điều tra, ghi vụ 1924 (622/24) (gói 1) bên trong chứa 0,4936g ma túy loại Methamphetamine (mẫu vật hoàn lại sau giám định) và ghi vụ 1924 (622/24) (gói 2) bên trong chứa 0,3279g ma túy loại Heroine (mẫu vật hoàn lại sau giám định).
- 04 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên, cán bộ điều tra, có ghi vụ 1926 (623/24) (gói 1) bên trong có 0, 1641g ma túy loại Methamphetamine (mẫu vật hoàn lại sau giám định); ghi vụ 1926 (623/24) (gói 2), bên trong có 0,9520g ma túy loại Methamphetamine (mẫu vật hoàn lại sau giám định); ghi vụ 1926 (623/24) (gói 3), bên trong có 0,8615g ma túy loại H2 (mẫu vật hoàn lại sau giám định); ghi vụ 1926 (623/24) (gói 4), bên trong có 7,1001g ma túy loại Methamphetamine (mẫu vật hoàn lại sau giám định).
- 02 nỏ thủy tinh, 01 muỗng nhỏ, 01 cây kéo, 01 đoạn ống hút nhựa cắt nhọn một đầu, 30 gói nylon rỗng, 01 hộp nhựa màu hồng, 01 bao lì xì bằng giấy màu đỏ, 02 ống hút nhựa
[7.2] Tịch thu sung quỹ đối với:
- 01 ĐTDĐ Xiaomi màu xanh, số I: 867824061862285/00; 02 cân điện tử, bị can N sử dụng vào việc phạm tội.
- Buộc bị cáo Phạm Thị Thu N nộp số tiền 2.000.000 đồng thu lợi bất vào Ngân sách Nhà nước.
[7.3] Đối với 01 xe mô tô biển số 59L1-21043, số khung: RLGKA12HDBD053515, số máy: VMVTBBD053515 bị cáo N sử dụng để đi bán ma túy, tuy nhiên chiếc xe không phải là tài sản hợp pháp của bị cáo. Người đang quản lý, sử dụng hợp pháp là ông Phạm Văn C- cha ruột bị cáo; Ông C không biết bị cáo sử dụng chiếc xe này để phạm tội nên xét thấy cần tiếp tục giao chiếc xe trên cho ông Phạm Văn C quản lý, sử dụng.
[8] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng)
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị Thu N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2/ Về hình phạt và điều luật áp dụng:
- Căn cứ vào điểm p khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Phạm Thị Thu N 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25 tháng 01 năm 2024.
Phạt bổ sung bị cáo Phạm Thị Thu N số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
3/ Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017); Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
[3.1] Tịch thu tiêu hủy đối với:
- 02 gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và cán bộ điều tra, ghi vụ 1924 (622/24) (gói 1) bên trong chứa 0,4936g ma túy loại Methamphetamine (mẫu vật hoàn lại sau giám định) và ghi vụ 1924 (622/24) (gói 2) bên trong chứa 0,3279g ma túy loại Heroine (mẫu vật hoàn lại sau giám định).
- 04 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên, cán bộ điều tra, có ghi vụ 1926 (623/24) (gói 1) bên trong có 0, 1641g ma túy loại Methamphetamine (mẫu vật hoàn lại sau giám định); ghi vụ 1926 (623/24) (gói 2), bên trong có 0,9520g ma túy loại Methamphetamine (mẫu vật hoàn lại sau giám định); ghi vụ 1926 (623/24) (gói 3), bên trong có 0,8615g ma túy loại H2 (mẫu vật hoàn lại sau giám định); ghi vụ 1926 (623/24) (gói 4), bên trong có 7,1001g ma túy loại Methamphetamine (mẫu vật hoàn lại sau giám định).
- 02 nỏ thủy tinh, 01 muỗng nhỏ, 01 cây kéo, 01 đoạn ống hút nhựa cắt nhọn một đầu, 30 gói nylon rỗng, 01 hộp nhựa màu hồng, 01 bao lì xì bằng giấy màu đỏ, 02 ống hút nhựa.
[3.2] Tịch thu sung quỹ đối với:
- 01 ĐTDĐ Xiaomi màu xanh, số I: 867824061862285/00; 02 cân điện tử.
- Buộc bị cáo Phạm Thị Thu N nộp số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) thu lợi bất chính vào Ngân sách Nhà nước.
[3.3] - Tiếp tục giao cho ông Phạm Văn C quản lý, sử dụng 01 xe mô tô nhãn hiệu Attila – SYM màu đỏ, biển số 59L1-21043, số khung: RLGKA12HDBD053515, số máy: VMVTBBD053515.
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/6/2024 giữa Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành dân sự Q, Thành phố Hồ Chí Minh).
4/ Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc: Bị cáo Phạm Thị Thu N chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
5/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo tính từ ngày tuyên án; đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa tính từ ngày được giao hoặc ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - TAND TP.HCM; (1) - VKSND TP.HCM; (1) - Sở Tư pháp TP.HCM; (1) - VKSND Quận 10; (3) - Công an Quận 10; (2) - Chi cục THADS Quận 10; (1) - Người tham gia tố tụng; (4) - Lưu: VP, THAHS, Hồ sơ. (5) |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Đức Anh |
Bản án số 106/2024/HS-ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 106/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị Thu Ng phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. 2/ Về hình phạt và điều luật áp dụng: - Căn cứ vào điểm p khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Phạm Thị Thu N 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25 tháng 01 năm 2024. Phạt bổ sung bị cáo Phạm Thị Thu N số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng)
