Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 106/2024/HS-PT

Ngày 01/7/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hà.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hải Vinh.

Ông Đặng Văn Quyết.

- Thư ký tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hoan- Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Diễm Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 01/7/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 120/TLPT-HS ngày 08 tháng 05 năm 2024, đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu H, Nguyễn Sơn T do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Thu H và Nguyễn Sơn T với Bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2024/HS-ST ngày 29/03/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

* Các bị cáo kháng cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1983; Nơi ĐKTT và nơi ở hiện nay: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; tên gọi khác: không; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: công chức địa chính xây dựng xã T, huyện L; trình độ học vấn: 12/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Đảng viên Đ2. Ngày 13/4/2023, Ủy ban kiểm tra Huyện ủy L2 có Quyết định thi hành kỷ luật: khai trừ; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1961 (đã chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1962; gia đình bị cáo có 03 chị em ruột, bị cáo là thứ nhất trong gia đình; có chồng là Vũ Đức H1, sinh năm 1983 và 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2016.
  2. Tiền án, tiền sự: không

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 04 tháng 3 năm 2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (Có mặt tại phiên toà).

  3. Họ và tên: Nguyễn Sơn T, sinh năm 1971; nơi ĐKTT và nơi ở hiện nay: thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; tên gọi khác: không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 12/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Đảng viên Đ2, nguyên chủ tịch UBND xã T giai đoạn 2013-2017. Ngày 15/12/2020, Huyện ủy L2 có Quyết định thi hành kỷ luật: khai trừ; con ông Nguyễn Công C, sinh năm 1935 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1935 (Đều đã chết); gia đình bị cáo có 09 anh em, bị cáo là thứ 6 trong gia đình; có vợ là Đoàn Thị H2, sinh năm 1978 và 02 con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2001.

    Tiền án, tiền sự: không.

    Nhân thân: Tại bản án số 98A/2020/HSPT ngày 31/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng”, thời gian thử thách 05 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Hiện bị cáo chưa chấp hành xong thời gian thử thách.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại ở nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa)

Trong vụ án còn có 03 bị cáo khác; bị hại; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị do đó Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

  1. Hành vi phạm tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ” của bị cáo Trần Đình Đ, Ong T và Đặng Thị P.
  2. Năm 2014, bị cáo Trần Đình Đ làm Trưởng thôn Hợp Thành, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang đã vượt quá quyền hạn cùng Ong T – Bí thư Chi bộ, Đặng Thị P - Phó thôn tổ chức đấu thầu đất trái quy định gây thiệt hại số tiền là 222.400.000 đồng (Hai trăm hai mươi hai triệu, bốn trăm nghìn đồng chẵn). Hành vi phạm tội cụ thể như sau:

    Do muốn có kinh phí xây dựng các công trình phúc lợi trong thôn H, xã T, huyện L, năm 2014 bị cáo Trần Đình Đ Trưởng thôn đã chủ trì một số cuộc họp toàn dân thôn H để triển khai nội dung tổ chức đấu thầu thửa đất công ích thuộc thửa số 156, tờ bản đồ 04 (thửa đất Ao to), diện tích 8.069,1m² tại thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Trước khi tổ chức họp, bị cáo Đ chỉ đạo bị cáo Đặng Thị P là Phó trưởng thôn kiêm thủ quỹ thôn H nhiệm kỳ 2012-2015 gọi loa thông báo cho nhân dân trong thôn đến dự họp với nội dung nêu trên. Tại các cuộc họp, đã thống nhất hình thức đấu thầu như sau: Ai tham gia dự thầu sẽ phải nộp tiền cọc 3.000.000 đồng và 200.000 đồng phí dự thầu. Nếu không trúng thầu thì sẽ được trả lại tiền cọc nhưng không được trả lại tiền phí dự thầu. Nếu trúng thầu thì tiền cọc sẽ được trừ vào tiền thầu. Ai bỏ thầu cao nhất sẽ trúng thầu, nếu người bỏ thầu cao nhất không thầu thì người thứ hai được thầu. Sau khi được sự nhất trí của nhân dân trong thôn và thống nhất được phương án đấu thầu, tại cuộc họp Chi bộ Thôn H ngày 03/4/2014 Trần Đình Đ đã xin ý kiến Ong T là Bí thư chi bộ thôn H, xã T giai đoạn 2012-2023, được X yêu cầu phải xin ý kiến của Ủy ban nhân dân xã T. Tuy nhiên sau đó Đ không xin ý kiến của UBND xã T mà vẫn tiến hành cho tổ chức đấu thầu thửa đất nêu trên. X cũng không yêu cầu Đ báo cáo lại hoặc kiểm tra lại việc Đ có xin ý kiến UBND xã T hay không mà vẫn cùng Đ và đại diện các ban ngành đoàn thể, nhân dân trong thôn tiến hành tổ chức đấu thầu thửa đất trên. Đương chỉ đạo P tiến hành thu tiền cọc và tiền phí dự thầu của những người tham gia đấu thầu. Tổng cộng có 12 người đăng ký tham gia dự thầu, P đã thu được tổng số 36.000.000 đồng tiền cọc và 2.400.000 đồng tiền phí dự thầu.

    Tại biên bản mở thầu ngày 10/01/2015 có tổng số 12 người tham gia dự thầu, kết quả: chị Lý Thị H3, sinh năm 1982 (chồng là Diệp Văn C1, sinh năm 1978, là em chồng của Đặng Thị P) trú tại thôn H, xã T, huyện L là người trúng thầu với số tiền 250.000.000 đồng. Sau khi công bố kết quả đấu thầu, anh Diệp Văn C1 có đề nghị thôn H giảm số tiền đấu thầu xuống còn 220.000.000 đồng và được đồng ý. Ngày 22/01/2015, Đ cùng X và ông Nguyễn Văn V là đại diện mặt trận thôn tiến hành xác định bàn giao thực địa cho anh C1. Ngày 11/02/2015, Trần Đình Đ soạn thảo Hợp đồng đấu thầu thửa đất Ao to với thành phần gồm: Trần Đình Đ – Trưởng thôn, Ong T – Bí thư chi bộ, Nguyễn Văn V – Trưởng ban mặt trận khu dân cư, bà Phạm Thị T2 – Chi hội trưởng phụ nữ, Phạm Văn S và Trần Văn T3 là đại diện nhân dân, cùng Diệp Văn C1 là người trúng thầu. Tham gia ký hợp đồng còn có: Đặng Thị P - Phó thôn, đại diện hội người cao tuổi: ông Ong Thế N1, đại diện hội nông dân: ông Giáp Minh V1, đại diện hội cựu chiến binh: ông Trần Văn P1. Thời gian đấu thầu là 5 năm 1 lần, nhưng thôn giao cho anh C1 thầu liên tục đến 50 năm, hạn cuối là hết năm 2064, anh C1 thanh toán trước bằng tiền 1 lần là 220.000.000 đồng để thôn lấy tiền xây dựng cơ sở hạ tầng, đường xá của thôn. Ngày 11/02/2015 và 14/4/2015, anh C1 đã nộp 220.000.000 đồng cho Ong Thế X1 là đại diện cho thôn thu số tiền trúng thầu. Số tiền này là tiền của anh C1 và Đặng Thị P chung nhau. Sau khi nhận số tiền nêu trên, X1 đã gửi vào Ngân hàng N3, chi nhánh huyện L. Ngày 14/9/2015, X1 bàn giao lại số tiền 220.000.000 đồng và tiền lãi 5.916.000 đồng cho ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1986 là Trưởng thôn H, xã T từ tháng 5/2015 cho đến nay. Số tiền này sau đó được thôn H sử dụng để xây dựng các công trình đường bê tông, nhà văn hóa trong thôn.

  3. Hành vi phạm tội “Giả mạo trong công tác” và “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” của Nguyễn Thị Thu H và Nguyễn Sơn T.
  4. Sau khi trúng thầu thửa đất Ao to, anh Diệp Văn C1 cùng Đặng Thị P đã tiến hành tháo nước, cải tạo thửa đất để trồng cây ăn quả như vải, nhãn, cam, bưởi, khoan giếng, xây dựng vành lao... Đến khoảng cuối năm 2015, Đặng Thị P đã đến gặp Nguyễn Thị Thu H là cán bộ địa chính xây dựng xã T giai đoạn 2010-2022 để làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất Ao to mang tên anh Diệp Văn C1. Sau khi tiếp nhận đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất của anh C1 và giấy tặng cho đất đề ngày 18/8/2000, H liên hệ với công ty TNHH một thành viên T9 vẽ bản đồ Việt Ngọc để đo đạc thửa đất trên. Khi có kết quả đo đạc, H tiến hành thiết lập hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh C1 gồm: Đơn đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do anh C1 ký, các nội dung trong đơn tại mục I. Phần kê khai của người đăng ký và mục II. Xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đều do H viết, trong đó có nội dung về nguồn gốc sử dụng đất, H tự viết là: “ông cha khai phá và tặng cho con năm 2000”; Phiếu lấy ý kiến của khu dân cư về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất ngày 11/12/2015, H là người viết nội dung trong phiếu, trong đó có nội dung xác định nguồn gốc sử dụng đất “ông cha khai phá và tặng cho con năm 2000”, còn chữ ký của trưởng thôn và những người tham gia cuộc họp thì H không nhớ ai là người đi xin chữ ký của những người đó; Danh sách công khai kết quả kiểm tra hồ sơ đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 12/12/2015; Biên bản niêm yết công khai kết quả xét duyệt đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, thời gian từ ngày 12/12/2015 đến 26/12/2015; Biên bản kết thúc công khai hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 26/12/2015. H khai có dán danh sách công khai và biên bản niêm yết công khai tại UBND xã T nhưng không dán tại thôn H. Sau khi thiết lập đầy đủ nội dung các giấy tờ trên H trình cho Nguyễn Sơn T là chủ tịch UBND xã T giai đoạn 2013-2017 để ký xác nhận cùng một lần. Bản thân T khi được H trình ký những giấy tờ nêu trên, do nể nang P là bạn, tin tưởng H và để hoàn thành nhiệm vụ, mặc dù biết việc thiết lập hồ sơ của H không đúng trình tự, thủ tục nhưng T đã ký xác nhận vào các tài liệu trong hồ sơ để H hoàn thiện chuyển đến Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện L để thẩm tra và trình các cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Diệp Văn C1 đối với thửa đất nêu trên. Ngày 28/3/2016, UBND huyện L đã ban hành Quyết định số 207/QĐ-UBND về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất 156, tờ bản đồ 04, thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, diện tích 9.601,4m², trong đó 888,1m² đất trồng cây lâu năm, 720m² đất nuôi trồng thủy sản cho anh Diệp Văn C1. Khoảng tháng 6/2022, P và C1 quyết định tách thửa đất nêu trên. P đến UBND xã T gặp chị Nông Thị L1 là cán bộ địa chính xây dựng xã T giai đoạn từ tháng 9/2021 đến nay để làm thủ tục tách thửa. Sau khi tiếp nhận hồ sơ của P, chị L1 kiểm tra thì phát hiện thửa đất trên là đất công ích do UBND xã T quản lý nên báo cáo lãnh đạo xã không ký hồ sơ tách thửa. Sau khi phát hiện vi phạm trên, UBND xã T đã tiến hành kiểm tra làm rõ việc thực hiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Diệp Văn C1 và có văn bản đề nghị UBND huyện L thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho anh C1. Ngày 03/10/2022, UBND huyện L ban hành Quyết định số 1117/QĐ-UBND về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do không đủ điều kiện được cấp, không đúng nguồn gốc sử dụng đất theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 106 Luật đất đai 2013.

    Ngay sau khi có quyết định thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên, Đặng Thị P cùng Diệp Văn C1, Lý Thị H3 làm đơn khiếu nại đến Công an huyện L và tố cáo H nhận của chị em P số tiền 45.000.000 đồng để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất trên.

    Ngày 06/02/2023, Cơ quan điều tra Công an huyện L đã tiến hành xác định hiện trường là khu vực vườn cây của anh Diệp Văn C1 tại thôn H, xã T, huyện L. Hiện trường có các vị trí tiếp giáp như sau: Hướng Bắc tiếp giáp vườn cây của gia đình chị Phạm Thị T5 và Phạm Thị M, hướng Đông tiếp giáp vườn cây của gia đình anh Lý Văn H4, Lý Văn T6, Trần Văn T3, Trần Đình M1, Trần Đình D; hướng Nam tiếp giáp vườn cây của gia đình anh Trần Văn T3; phía Tây tiếp giáp đường giao thông. Diện tích khu vực xác định hiện trường là 9.034m², số lượng cây trồng gồm: 15 cây vải T trồng tháng 2/2017, đường kính tán 270cm; 70 cây vải T trồng tháng 01/2022 (trong đó 42 cây đường kính tán 80cm, 28 cây đường kính tán 100cm); 380 cây bưởi diễn trồng tháng 3/2015 (trong đó 180 cây có đường kính gốc 11cm, 200 cây đường kính gốc 09cm); 330 cây bưởi da xanh trồng tháng 3/2015 (trong đó 16 cây có đường kính gốc 9cm, 140 cây có đường kính gốc 10cm); 40 cây bưởi đường trồng tháng 5/2018, đường kính gốc 8cm; 330 cây cam V2 trồng tháng 02/2015 (trong đó 30 cây có đường kính tán 300cm, 220 cây có đường kính tán 280cm, 80 cây có đường kính tán 220cm); 220 cây nhãn trồng tháng 02/2015 (trong đó 70 cây có đường kính tán 240cm, 70 cây có đường kính tán 280cm, 60 cây có đường kính tán 30cm). Ngày 19/5/2023, Cơ quan điều tra tiến hành xác định tài sản trên đất gồm: 01 giếng khoan có chiều sâu 93m, chiều rộng 12cm và vành lao xây dựng bằng gạch không nung (cay) có tổng chiều dài là 60,3m.

    Ngày 06/02/2023, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét nơi ở của Trần Đình Đ tại thôn H, xã T, huyện L thu giữ: bản gốc nghị quyết họp thôn đề ngày 11/4/2014, Biên bản xác định để bàn giao thực địa theo hợp đồng đấu thầu đề ngày 22/01/2015, 01 (Một) quyển sổ ghi chép công tác thôn H nhiệm kỳ 2013-2015, 01 (Một) Biên bản bàn giao công việc giữa Trưởng thôn cũ và Trưởng thôn mới đề ngày 31/12/2012.

    Ngày 04/3/2023, 02/6/2023 và ngày 09/11/2023, Cơ quan điều tra lần lượt tiến hành khám xét nơi ở, nơi làm việc của Nguyễn Thị Thu H, Ong T, Nguyễn Sơn T và Đặng Thị P. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

    Ngày 04/3/2023, H tự nguyện giao nộp 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung loại Galaxy S8 màu đen là điện thoại của H để phục vụ công tác điều tra; kiểm tra điện thoại trên của H, kết quả không phát hiện cuộc gọi, tin nhắn nào liên quan đến vụ án.

    Ngày 10/01/2023, O1 giao nộp 01 (Một) bản gốc hợp đồng đấu thầu thửa đất Ao to ngày 11/02/2015; ông Nguyễn Văn T4 giao nộp 01 (Một) Biên bản bàn giao tiền đề ngày 14/9/2015, 01 (Một) sổ nhật ký chi tiền, 01 (Một) sổ Nghị quyết họp thôn H; Ngày 17/02/2023 và 02/4/2023, Ong T giao nộp bản gốc giấy biên nhận tiền ngày 11/02/2015 và 14/4/2015, 01 (Một) sổ ghi biên bản họp chi bộ; Ngày 31/10/2023, Đặng Thị P giao nộp cho cơ quan điều tra: 01 (Một) sổ ghi chép thu chi của thôn H năm 2014 đến 2016.

    Ngày 21/02/2023, chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện L giao nộp cho Cơ quan điều tra Công an huyện L 01 bộ hồ sơ gốc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 156, tờ bản đồ số 04 tại thôn H, xã T cho anh Diệp Văn C1.

    Kết quả làm việc với UBND xã T: Xác định thửa đất Ao to là đất công ích do UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang quản lý và sử dụng. Giai đoạn năm 2015 ông Trần Đình Đ, Trưởng thôn H, xã T, huyện L cùng một số cán bộ trong Ban Q1 cho anh Diệp Văn C1 đấu thầu thửa đất Ao to là cho đấu thầu đất Công ích của nhà nước. Ngày 30/6/2022, bà Nguyễn Thu H công chức địa chính xã T đã tham mưu báo cáo số 19/BC-UBND, báo cáo kết quả rà soát, xác minh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất trái với quy định pháp luật. Trong báo cáo nêu theo tài liệu lưu trữ của UBND xã T cho thấy: Thửa đất Ao to nêu trên được đăng ký trong sổ địa chính xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang tại trang số 197, ngày 18/7/2011, trên sổ địa chính ghi đất Ao to diện tích là 7350m², tuy nhiên hiện nay UBND xã không còn lưu trữ sổ địa chính nêu trên. Từ trước tới nay không có giấy tờ tài liệu nào liên quan đến việc giao quản lý sử dụng thửa đất Ao to tại thôn H. Trên thực tế từ trước đến nay UBND xã T chưa cho bất kỳ cá nhân, tổ chức nào đấu thầu thửa đất Ao to tại thôn H.

    Kết quả làm việc Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện L: Căn cứ điểm a, khoản 3, Điều 4, Quyết định số 869/2014/QĐ-UBND ngày 31/12/2014 của UBND tỉnh B về việc ban hành Quy định một số điểm cụ thể về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, cụ thể điểm a, khoản 3, Điều 4, Quyết định 869/2014/QĐ-UBND ngày 31/12/2014 quy định một trong những giấy tờ để chứng mình đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích như sau: “Hợp đồng hoặc những giấy tờ thể hiện nội dung thuê, khoản, giao thầu của UBND cấp xã; đại diện thôn, bản, khu dân cư, các tổ chức chính trị, xã hội cấp xã, thôn với hộ gia đình, cá nhân và có chữ ký của đại diện hộ gia đình, cá nhân đó” Theo quy định tại điểm a, khoản 4, điều 13, Quyết định số 10/2019/QĐ- UBND ngày 21/5/2019 của UBND tỉnh B về việc ban hành Quy định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, quy định một trong những giấy tờ để chứng minh đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích bao gồm: “Hợp đồng hoặc những giấy tờ thể hiện nội dung thuê, khoán, giao thầu của UBND cấp xã; đại diện thôn, bản, khu dân cư, các tổ chức chính trị, xã hội cấp xã, thôn với hộ gia đình, cá nhân và có chữ ký của đại diện hộ gia đình, cả nhân đó”. Từ những căn cứ nêu trên xác định việc Ban quản lý thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang ký Hợp đồng đấu thầu Ao To với anh Diệp Văn C1 ngày 11/02/2015, là cho đấu thầu đất Công ích của nhà nước. Như vậy, căn cứ vào “Hợp đồng đấu thầu Ao T7” giữa Ban quản lý thôn và anh Diệp Văn C1 thì thời gian cho dấu thầu đất Công ích của nhà nước được tính từ ngày ký Hợp đồng đấu thầu Ao To.

    Tại Công văn số 91/UBND-TNMT ngày 24/01/2024 UBND huyện lục Ngạn trình bày: Thửa đất số 156, tờ bản số 04, địa chỉ thôn H, xã T, huyện L được thiết lập trong sổ mục kê đất đai với mục đích sử dụng là loại đất TSN; người sử dụng, quản lý là UBND xã. UBND huyện L đã có Văn bản số 391/UBND-TNMT ngày 25/4/2023, phúc đáp Công văn số 303/CV-CSĐT ngày 03/4/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, trong đó có nội dung thửa đất số 156, tờ bản số 04, địa chỉ thôn H, xã T là đất công ích (theo kết quả báo cáo của UBND xã T tại văn bản số 19/BC-UBND ngày 30/6/2022). Căn cứ khoản 4, Điều 20, Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T10 quy định về Bản đồ địa chính thì trên sổ mục kê được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B ký duyệt được thực hiện theo mẫu quy định tại Phụ lục số 15 kèm theo Thông tư. Căn cứ các tài liệu thu thập: Biên bản thầu Ao to của Ban Q1 ngày 10/01/2015; Biên bản họp thôn H ngày 08/02/2015; Biên bản bàn giao của thôn H ngày 14/9/2015; căn cứ quy định của pháp luật hiện hành, thửa đất số 156, tờ bản số 04, địa chỉ thôn H, xã T là đất công ích đã được Ban quản lý thôn thực hiện giao thầu năm 2015.

    Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện L đã tiến hành trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký, con dấu trên các tài liệu thu giữ như:

    - Kết luận giám định số 171/KL-KTHS ngày 02/02/2023 Phòng K, Công an tỉnh B kết luận giám định đối với tài liệu là “Hợp đồng đấu thầu ao to” đề ngày 11/02/2015:

    • + Chữ ký, chữ viết mang tên Diệp Văn C1 tại mục “Đại diện người trúng thầu” trên tài liệu cần giám định (Ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết của Diệp Văn C1 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M5, M6) là do cùng một người ký, viết ra.
    • + Chữ ký, chữ viết mang tên Trần Đình Đ tại mục “1. Trưởng thôn” trên tài liệu cần giám định (Ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết của Trần Đình Đ trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M3, M4) là do cùng một người ký, viết ra.
    • + Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết có nội dung “X1-Ong Thế X2” tại mục “2. Bí Thư” trên tài liệu cần giám định (Ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết của Ong T trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M1, M2) là do cùng một người ký, viết ra.

    - Kết luận giám định số 331/KL-KTHS ngày 28/02/2023 của Phòng K, Công an tỉnh B kết luận giám định đối với các tài liệu gồm: Đơn đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất; Đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính để thực hiện việc lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Diệp Văn C1; Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất; Phiếu lấy ý kiến của khu dân cư về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất đề ngày 11/12/2015; Tờ trình về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đề ngày 28/12/2015; Danh sách công khai kết quả kiểm tra hồ sơ đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đề ngày 12/12/2015; Biên bản kết thúc công khai hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân tại thôn H, xã T; Biên bản về việc niêm yết công khai kết quả xét duyệt đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đề ngày 12/12/2015; Giấy cho tặng đất đề ngày 18/8/2000; biên bản thẩm tra hồ sơ, xác minh thực địa đề ngày 05/01/2016:

    • + Chữ ký, chữ viết mang tên Diệp Văn C1 tại các mục "Người viết đơn", "Chủ sử dụng đất", "Xác nhận của đại diện những người sử dụng đất về việc đã công khai danh sách này", "người được nhận" trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu từ A1 đến A4, A7, A10, A11) so với chữ ký, chữ viết của Diệp Văn C1 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M5, M6, M32) là do cùng một người ký, viết ra.
    • + Chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Thị Thu H tại các mục "Công chức địa chính", "Người dẫn đạc", "Cán bộ địa chính" trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A4, A8, A9, A11) so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thị Thu H trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M7, M8) là do cùng một người ký, viết ra.
    • + Chữ viết tại các mục "Kính gửi", "I.Phần kê khai của người đăng ký", "II. Xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn"; chữ viết có nội dung "10 - 12 - 2015", 28 - 12 - 2015" tại mục "Ngày ...tháng ...năm" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1); chữ viết trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A5 - trừ chữ viết tại các mục "Những người tham gia cuộc họp cùng thống nhất ký tên dưới đây", "Chủ trì cuộc họp"); chữ viết có nội dung "12/12/2015", "26/12/2015", "12 - 12" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A7); chữ viết trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A8, A9 - trừ chữ viết có nội dung "Nguyễn Văn T4" tại mục "Trưởng thôn") so với chữ viết của Nguyễn Thị Thu H trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M7, M8) là do cùng một người viết ra.
    • + Chữ viết trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A4, A10, A11 - trừ chữ viết có nội dung "Nguyễn Thị Thu H" tại mục "Người dẫn đạc", "Cán bộ địa chính" trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A4, A11) so với chữ viết của Nguyễn Thị Thu H trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M7, M8) là không phải do cùng một người viết ra.
    • + Chữ ký mang tên Nguyễn Sơn T tại các mục "TM. Ủy ban nhân dân - Chủ tịch", "TM. UBND xã - Xác nhận đo đạc đúng hiện trạng", "Xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn", "TM. UBND XÃ", "TM. Ủy ban nhân dân" trên các tài liệu gửi giám định (ký hiệu A1, A3, từ A5 đến A9, A11) so với chữ ký của Nguyễn Sơn T trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M9, M10) là do cùng một người ký ra.
    • + Chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Văn T4 tại các mục "Chủ trì cuộc họp", "Trưởng thôn" trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A5, A8, A9, A11) so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Văn T4 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M11, M12) là do cùng một người ký ra.
    • + Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết có nội dung "Lý Văn H4 - H4" tại hàng "STT 2", cột "Tên chủ sử dụng đất" và "Ký tên" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A4) so với chữ ký, chữ viết của Lý Văn H4 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M13, M14) là không phải do cùng một người ký, viết ra.
    • + Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết có nội dung "Lý Văn H4 - H4" tại hàng "STT 2", cột "Tên chủ sử dụng đất " và "Ký tên" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A4) so với chữ ký, chữ viết của Vũ Thị H5 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M15, M16) là do cùng một người ký, viết ra.
    • + Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết có nội dung "Lý Văn T6 - Thành" tại hàng "STT 3", cột "Tên chủ sử dụng đất" và "Ký tên" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A4) so với chữ ký, chữ viết của Lý Văn T6 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M17, M18) là không phải do cùng một người ký, viết ra.
    • + Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết có nội dung "Lý Văn T6 - Thành" tại hàng "STT 3", cột "Tên chủ sử dụng đất" và "Ký tên" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A4) so với chữ ký, chữ viết của Vũ Thị H5 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M15, M16) là do cùng một người ký, viết ra.
    • + Chữ ký, chữ viết mang tên Trần Đình M1 tại hàng "STT 4", cột "Tên chủ sử dụng đất" và "Ký tên" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A4) so với chữ ký, chữ viết của Trần Đình M1 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M19, M20) là do cùng một người ký, viết ra.
    • + Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết có nội dung "Phạm Thị G - Gieo" tại hàng "STT 5", cột "Tên chủ sử dụng đất" và "Ký tên" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A4) so với chữ ký, chữ viết của Phạm Thị G trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M21, M22) là không phải do cùng một người ký, viết ra.
    • + Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết có nội dung "Phạm Thị M - M" tại hàng "STT 6", cột "Tên chủ sử dụng đất" và "Ký tên" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A4) so với chữ ký, chữ viết của Phạm Thị M trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M23, M24) là không phải do cùng một người ký, viết ra.
    • + Chữ viết có nội dung "Trần Đình Đường" tại hàng "STT 7", cột "Tên chủ sử dụng đất" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A4) so với chữ viết của Trần Đình Đ1 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M25, M26) là không phải do cùng một người viết ra.
    • + Phòng K không kết luận chữ ký mang tên Trần Đình Đ1 tại hàng "STT 7", cột "Ký tên" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A4) so với chữ ký của Trần Đình Đ1 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M25, M26) do chữ ký cần giám định và chữ ký mẫu khác dạng nhau.
    • + Hình dấu tròn có nội dung "UBND xã T.Lục Ngạn T.Bắc G1" trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A3, từ A5 đến A9, A11) so với hình dấu tròn có cùng nội dung của UBND xã T trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M27 đến M31) là do cùng một con dấu đóng ra.

    - Kết luận giám định số 456/KL-KTHS ngày 18/3/2023 của Phòng K, Công an tỉnh B kết luận giám định đối với tài liệu gồm: Hợp đồng đấu thầu ao to đề ngày 11/02/2015; Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất đề ngày 03/10/2015; Bản mô tả ranh giới mốc giới thửa đất đề ngày 03/10/2015; Phiếu lấy ý kiến của khu dân cư về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất đề ngày 11/12/2015; 02 giấy biên nhận đề các ngày 11/02/2015; 14/4/2015; 01 biên bản bàn giao đề ngày 14/9/2015:

    • + Chữ ký, chữ viết mang tên Đặng Thị P tại các mục "2. Phó thôn", "Người chứng kiến", "Phó thôn" trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A, A12, A13, A14) và chữ viết có nội dung "Phó thôn" ở trên chữ ký, chữ viết mang tên Đặng Thị P trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A12, A13, A14) so với chữ ký, chữ viết của Đặng Thị P trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M36, M37) là do cùng một người ký, viết ra.
    • + Chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Văn V tại các mục "Trưởng ban MTKHDC", "Người chứng kiến" trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A, A14); tại hàng "STT 3", cột "Họ và tên" và "Ký tên" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A5) so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Văn V trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M38, M39) là do cùng một người ký, viết ra.
    • + Chữ ký, chữ viết mang tên Ong Thế Năng tại các mục "Hội NCT", "Người chứng kiến" trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A, A14) so với chữ ký, chữ viết của Ong T trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M40, M41) là do cùng một người ký, viết ra.
    • + Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết có nội dung "Thân - Phạm Thị T2" tại các mục "Hội P.N", "Người chứng kiến", "Trưởng BCTMT" trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A, A12, A13, A14) so với chữ ký, chữ viết của Phạm Thị T2 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M42, M43) là do cùng một người ký, viết ra.
    • + Chữ ký, chữ viết mang tên Giáp Minh V1 tại mục "Hội ND" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết của Giáp Minh V1 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M44, M45) là do cùng một người ký, viết ra.
    • + Chữ ký, chữ viết mang tên Trần Đình Đ1 tại các mục "4. Đại diện nhân dân", "Người chứng kiến" trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A, A14) so với chữ ký, chữ viết của Trần Đình Đ1 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M46, M47) là do cùng một người ký, viết ra.
    • + Chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Xuân C2 tại mục "4. Đại diện nhân dân" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Xuân C2 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M48, M49) là do cùng một người ký, viết ra.
    • + Chữ viết có nội dung "Trần Văn P1" tại mục "HCCB" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ viết của Trần Văn P1 (Trần Bá P2) trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M50, M51) là do cùng một người viết ra.
    • + Chữ viết có nội dung "Phạm Văn S" tại mục "HCCB" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A); chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết có nội dung "Phạm Văn S - Sỹ" tại hàng "STT ...", cột "Họ và tên" và "Ký tên" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A5) so với chữ viết của Phạm Văn S trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M52, M53) là do cùng một người ký, viết ra.
    • + Chữ ký, chữ viết mang tên Trần Đình Đ tại hàng "STT 2", cột "Họ và tên" và "Ký tên" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A5) so với chữ ký, chữ viết của Trần Đình Đ trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M3, M4) là do cùng một người ký, viết ra.
    • + Chữ ký, chữ viết mang tên Diệp Văn C1, C1 tại mục "Người giao" trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A12, A13) so với chữ ký, chữ viết của Diệp Văn C1 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M5, M6) là do cùng một người ký, viết ra.
    • + Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết có nội dung "Chi - Nguyễn Thị C3" dưới mục "Người nhận" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A13) so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thị C3 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M56, M57) là do cùng một người ký, viết ra.
    • + Chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Thị Q tại mục "Người chứng kiến" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A14) so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thị Q trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M54, M55) là do cùng một người ký, viết ra.
    • + Chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Văn T4 tại mục "Bên nhận" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A14) so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Văn T4 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M11, M12) là do cùng một người ký, viết ra.
    • + Chữ ký mang tên Đào Mai N2 tại mục "Cán bộ đo đạc" trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A2, A4) so với chữ ký của Đào Mai N2 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M58, M59) là do cùng một người ký ra.
    • + Chữ viết trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A4) so với chữ viết của Đào Mai N2 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M58, M59) là không phải do cùng một người viết ra.
    • + Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết mực màu đen trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A12); chữ ký, chữ viết có nội dung "2 - 50.000.000Đ - (Năm mươi triệu đồng chẵn)" tại các dòng thứ 10, 11 tính từ trên xuống dưới; "Xuân - Ong Thế X2" tại mục "người nhận" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A13) so với chữ ký, chữ viết của Ong T trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M1, M2, M33, M34, M35) là do cùng một người ký, viết ra.
    • + Phòng K không kết luận giám định đối với chữ viết trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A13, A14 - trừ chữ ký, chữ viết đã kết luận ở các mục trên) do là chữ viết sao chụp (photocopy).

    - Kết luận giám định số 700/KL-KTHS ngày 18/4/2023 của Phòng K kết luận giám định đối với tài liệu là “Sổ ghi biên bản hội nghị chi bộ, chi ủy” nhiệm kỳ 2012-2015 của Chi bộ thôn H:

    • + Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết có nội dung “X2-Ong Thế X2” dưới mục “Chủ tọa” trên tài liệu cần giám định (Ký hiệu A15) so với chữ ký, chữ viết của Ong T trên các tài liệu mẫu (Ký hiệu M1, M2) là do cùng một người ký, viết ra.
    • + Chữ viết trên tài liệu cần giám định (Ký hiệu A15-trừ chữ ký, chữ viết có nội dung “X2-Ong Thế X2” dưới mục “Chủ tọa”) so với chữ viết của Nguyễn Thị H6 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M60 đến M64) là do cùng một người viết ra.

    - Kết luận giám định số 1180/KL-KTHS ngày 28/6/2023 của Phòng K kết luận giám định đối với tài liệu gồm: Đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính để thực hiện việc lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Diệp Văn C1; Biên bản thẩm tra hồ sơ, xác minh thực địa đề ngày 05/01/2016; Tờ trình về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đề ngày 24/3/2016:

    • + Phòng Kỹ thuật hình sự không kết luận đối với chữ ký mang tên Nguyễn Trọng V3 tại các mục “Phòng TN và MT”, “Trưởng phòng” trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A3, A16) do là chữ ký sao chụp (photocopy).
    • + Hình dấu tròn có nội dung “Cộng Hòa XHCN Việt Nam – Phòng T11” trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A3, A16) so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M72 đến M76) là do cùng một con dấu đóng ra.
    • + Hình dấu có nội dung “Trưởng phòng Nguyễn Trọng V3” trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A3, A16) so với hình con dấu có cùng nội dung trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M72 đến M76) là do cùng một con dấu đóng ra.
    • + Chữ viết có nội dung “Xác nhận nội dung ghi trong biên bản thẩm định là đúng” dưới mục “TM. UBND xã” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A11) so với chữ viết của Nguyễn Thị Thu H trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M7, M8) là không phải do cùng một người viết ra.
    • + Chữ ký, chữ viết trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A11 – trừ chữ ký, chữ viết mang tên “Nguyễn Văn T4”, “Diệp Văn C1”, “Nguyễn Thị Thu H”, “Nguyễn Sơn T” tại các mục “Trưởng thôn”, “Chủ sử dụng đất, “Cán bộ địa chính”, “TM. UBND xã”) so với chữ ký, chữ viết của Chu Văn T8 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M65 đến M69) là do cùng một người ký, viết ra.

    - Bản kết luận giám định số 2156/KL-KTHS ngày 07/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận giám định đối với tài liệu là: Giấy cho tặng đất đề ngày 18/8/2000: chữ ký dạng chữ viết trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A10- trừ chữ ký chữ viết mang tên Diệp Văn C1 dưới mục “Người được nhận”) so với chữ ký, chữ viết của Đặng Thị P trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M77 đến M84) là không phải do cùng một người ký, viết ra.

    Về kết quả định giá đất và tài sản trên đất đối với thửa đất 156, tờ bản đồ 04, thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tại bản kết luận định giá tài sản số 30 ngày 13/02/2023 và số 88 ngày 31/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện L kết luận:

    • + Đất trồng cây lâu năm (8.881,4m²) tại thời điểm năm 2016 = 373.018.800 đồng;
    • + Đất trồng cây lâu năm (8.881,4m²) tại thời điểm tháng 10/2022 = 373.018.800 đồng;
    • + Đất nuôi trồng thủy sản (720m²) tại thời điểm năm 2016 = 23.760.000đ;
    • + Đất nuôi trồng thủy sản (720m²) tại thời điểm tháng 10/2022 = 23.760.000 đồng;
    • + 15 cây vải T, đường kính tán lá 2,5m≤F<3m, tính đến ngày 06/02/2023 = 36.750.000 đồng;
    • + 70 cây vải T, đường kính tán lá 0,5m≤F<1m, tính đến ngày 06/02/2023 = 10.850.000 đồng;
    • + 380 cây Bưởi Diễn, đường kính gốc 09cm≤P<12cm, tính đến ngày 06/02/2023 = 879.700.000 đồng;
    • + 300 cây Bưởi da xanh, đường kính gốc 09cm≤P<12cm, tính đến ngày 06/02/2023 = 694.500.000 đồng;
    • + 40 cây Bưởi đường, đường kính gốc 07cm≤P<09cm, tính đến ngày 06/02/2023 = 71.000.000 đồng;
    • + 80 cây Cam vinh, đường kính tán 02m≤F<2,5m, tính đến ngày 06/02/2023 = 115.200.000 đồng;
    • + 220 cây Cam vinh, đường kính tán 2,5m≤F<3m, tính đến ngày 06/02/2023 = 396.000.000 đồng;
    • + 30 cây Cam vinh, đường kính tán 3m≤F<3,5m, tính đến ngày 06/02/2023 = 64.800.000 đồng;
    • + 140 cây nhãn, đường kính tán 2m≤F<3m, tính đến ngày 06/02/2023 = 63.700.000 đồng;
    • + 60 cây nhãn, đường kính tán 3m≤F<4m, tính đến ngày 06/02/2023 = 47.100.000 đồng;
    • + 01 giếng khoan, được khoan bằng hình thức khoan công nghiệp, có chiều sâu là 93m x chiều rộng là 12cm, tại thời điểm định giá tháng 5/2023 = 10.276.500 đồng;
    • + 01 vành lao bao quanh được xây dựng bằng cay xi măng 120,36m², tại thời điểm định giá tháng 5/2023 = 9.027.000 đồng;
    • + 01 móng vành lao được xây dựng bằng cay xi măng 9,65 m², tại thời điểm định giá tháng 5/2023 = 1.538.000 đồng;

    Tại bản kết luận định giá tài sản số 111 ngày 27/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện L kết luận:

    • + Đất nuôi trồng thủy sản “TSN”(8.069,1m²) tại thời điểm ngày 11/02/2015 là 266.280.300 đồng;
    • + Đất nuôi trồng thủy sản “TSN” (8.069,1m²) tại thời điểm tháng 10/2022 là 266.280.300 đồng.

    Đối với số tiền cọc 36.000.000 đồng P thu được của 12 người dự thầu, sau khi 11 người không trúng thầu P đã trả lại, còn 3.000.000 đồng của anh C1 thì trừ vào tiền trúng thầu; số tiền 2.400.000 đồng phí dự thầu P chi vào việc mua chè, nước... phục vụ cho công tác đấu thầu.

    Đối với ông Diệp Văn O và bà Lý Thị S1 là bố mẹ đẻ của Diệp Văn C1, quá trình điều tra xác định ông O đã chết năm 2014, bà S1 không biết chữ và khẳng định không có thửa đất nào ở thôn H để tặng cho anh C1 vào năm 2000, do đó không có căn cứ để xác định ông O, bà S1 ký tên trong giấy cho tặng đất ngày 18/8/2000 cho anh Diệp Văn C1.

    Về vật chứng: Đối với các giấy tờ, sổ sách đã thu giữ được lưu trong hồ sơ vụ án. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung loại Galaxy S8 màu đen do H giao nộp, ngày 04/8/2023, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho anh Vũ Đức H1, sinh năm 1983, trú tại thôn T, xã T, huyện L là chồng của bị cáo H.

    Về trách nhiệm dân sự: Đại diện UBND xã T và UBND huyện L không yêu cầu bồi thường gì. Anh Diệp Văn C1 yêu cầu bồi thường số tiền 220.000.000 đồng và tài sản đã đầu tư xây dựng trên đất như cây ăn quả, tường vành lao, giếng khoan... theo kết quả định giá tài sản.

    Với nội dung trên, Bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2024/HS-ST ngày 29/03/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:

    Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 359; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H 03 (ba) năm tù về tội “Giả mạo trong công tác”. Thời hạn từ tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/3/2023. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

    Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 360; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Sơn T 09 (chín) tháng tù về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng. Thời hạn từ tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án. Miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

    Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt đối với 03 bị cáo khác, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

    Ngày 04/4/2024, bị cáo Nguyễn Thị Thu H kháng cáo 01 phần bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

    Ngày 12/4/2024, bị cáo Nguyễn Sơn T kháng cáo 01 phần bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

    * Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Nguyễn Thị Thu H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày như sau: bị cáo thấy án sơ thẩm xét xử đối bới bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Tuy nhiên, bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình là sai, bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi của mình. Bị cáo đề nghị hội đồng xét xử khoan hồng, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm có cơ hội trở về với gia đình và xã hội. Tại phiên toà hôm nay bị cáo mới biết gia đình bị cáo đã nộp đơn đề nghị của Ủy ban nhân dân xã T, huyện L tiếp tục xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xác nhận trong thời gian công tác tại địa phương bị cáo đã có nhiều thành tích xuất sắc đóng góp cho địa phương trong mọi công việc; Đơn đề nghị của bị hại Diệp Văn C1 về việc gia đình bị cáo đã khắc phục hậu quả cho gia đình anh một số tiền, đề nghị xem xét cho bị cáo được hưởng mức án treo; Ban quản lý thôn H, xã T xác nhận gia đình bị cáo đã nộp 10.000.000đồng để khắc phục hậu quả cho Ban Q1, đề nghị cho bị cáo được giảm nhẹ mức án.

    * Bị cáo Nguyễn Sơn T thay đổi nội kháng cáo, bị cáo không xin hưởng án treo, chỉ đề nghị xem xét giảm hình phạt và bị cáo trình bày như sau: bị cáo thấy án sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Bị cáo đã ăn năn hối hận về hành vi của mình.

    Tại cấp phúc thẩm bị cáo đã nộp biên lai thu tiền án phí của bản án sơ thẩm; Đơn xin xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã về việc bị cáo được Trung ương đoàn Thanh niên cộng sản H7 tặng kỷ niệm chương vì thế hệ trẻ năm 2003; quá trình công tác bị cáo được tặng thưởng nhiều giấy khen; hiện nay bị cáo tuổi cao, sức khỏe yếu, năm 2019 bị cáo bị tai nạn gẫy 02 chân, mất 01 mắt, mắt còn lại mờ; bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Công C được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

    Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của án, tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo đề nghị HĐXX cấp phúc thẩm: căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thị Thu H và bị cáo Nguyễn Sơn T, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, xử:

    1. Căn cứ điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 359; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị Thu H 01 (một) năm 03 (ba) tháng 27 (Hai bẩy) ngày tù về tội “Giả mạo trong công tác”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 04/3/2023.

    Do bị cáo H đang bị tạm giam, thời hạn tù bằng thời gian bị cáo đã bị tạm giam nên trả tự do ngay cho bị cáo tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về tội khác.

    Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

    Cấm bị cáo Nguyễn Thị Thu H đảm nhiệm các chức vụ, công việc liên quan đến địa chính, đất đai trong thời hạn 02 (Hai) năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

    2. Căn cứ điểm d khoản 1, khoản 4 Điều 360; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: bị cáo Nguyễn Sơn T 06 (Sáu) tháng về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”, thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án.

    Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

    Cấm bị cáo Nguyễn Sơn T đảm nhiệm các chức vụ, công việc liên quan đến quản lý địa chính, đất đai trong thời hạn 01 (Một) năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

    Bị cáo H, bị cáo T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

    Các bị cáo không có tranh luận gì.

    Bị cáo H nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

    Bị cáo T: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo, cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.

    NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

    Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

    [1]. Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Thu H, Nguyễn Sơn T nộp theo đúng các quy định của pháp luật nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp cần được chấp nhận để xem xét.

    [2]. Về sự vắng mặt của đương sự: tại phiên tòa, bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt do không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị do đó Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.

    [3]. Xét hành vi của các bị cáo:

    Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Thị Thu H và Nguyễn Sơn T thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã nhận định là đúng, không oan. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ kết luận:

    Trong năm 2014, 2015 bị cáo Trần Đình Đ là Trưởng thôn Hợp Thành, xã T đã vượt quá quyền hạn cùng với bị cáo Ong Thế X2 - Bí thư chi bộ nhiệm kỳ 2012-2023, bị cáo Đặng Thị P - Phó thôn H nhiệm kỳ 2012-2015 tự ý tổ chức cho đấu thầu diện tích 8.069,1m² đất công ích thuộc thửa số 156, tờ bản đồ số 04 do UBND xã T, huyện L quản lý cho anh Diệp Văn C1 với thời hạn 50 năm để lấy tiền xây dựng các công trình phúc lợi của thôn, gây thiệt hại cho anh Diệp Văn C1 số tiền 220.000.000 đồng và thu sai tiền phí dự thầu của 12 hộ dân tham gia đấu thầu là 2.400.000 đồng, tổng là 222.400.000 đồng (Hai trăm hai mươi hai triệu, bốn trăm nghìn đồng chẵn).

    Cuối năm 2015, Nguyễn Thị Thu H là cán bộ địa chính xây dựng xã T đã tiếp nhận, thụ lý hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên. Để hoàn thành nhiệm vụ theo lĩnh vực được phân công, bị cáo H làm giả (thiết lập khống) 03 (Ba) tài liệu gồm: Biên bản lấy ý kiến khu dân cư về nguồn gốc thửa đất, xác nhận sai nguồn gốc đất là “ông cha khai phá và tặng cho năm 2000”; Danh sách công khai kết quả kiểm tra hồ sơ đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 12/12/2015; Biên bản niêm yết công khai kết quả xét duyệt đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, thời gian từ ngày 12/12/2015 đến 26/12/2015 nhưng không dán niêm yết tại thôn H, xã T theo quy định... từ đó hoàn thiện hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất 156, tờ bản đồ 04, thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, diện tích 9.601,4m², trong đó 888,1m² đất trồng cây lâu năm, 720m² đất nuôi trồng thủy sản; gây thiệt hại cho UBND xã T là 396.778.000 đồng (Ba trăm chín mươi sáu triệu, bẩy trăm bẩy mươi tám nghìn đồng chẵn). Tất cả các tài liệu do H thiết lập khống và đều được Nguyễn Sơn T là chủ tịch UBND xã T giai đoạn 2013-2017 ký xác nhận không đúng trình tự, thủ tục, không kiểm tra việc thiết lập hồ sơ của bị cáo H có đúng hay không.

    Do đó, bản án sơ thẩm kết án xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H 03 (Ba) năm tù và bị cáo Nguyễn Sơn T 09 (Chín) tháng tù với tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

    [4]. Xét nội dung kháng cáo của các bị cáo, HĐXX thấy:

    [4.1]. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo:

    • - Về nhân thân của các bị cáo: các bị cáo Nguyễn Thị Thu H, Nguyễn Sơn T tại thời điểm phạm tội đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
    • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
    • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Bị cáo Nguyễn Sơn T quá trình công tác được tặng Bằng khen của Ban chấp hành Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh H7 do có thành tích xuất sắc trong công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi. Ngoài ra, bị cáo còn được các cơ quan có thẩm quyền của xã T, của huyện L tặng thưởng nhiều giấy khen trong quá trình công tác, bị cáo được bị hại là Ủy ban nhân dân xã T có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Bị cáo Nguyễn Thị Thu H quá trình công tác năm 2018 được Chủ tịch UBND xã T tặng giấy khen, năm 2021 được Chủ tịch UBND huyện L tặng giấy khen, bị cáo có ông nội được tặng Bằng khen năm 2001 và Huân chương kháng chiến năm 1984, bị cáo được bị hại xin xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Tòa cấp sơ thẩm đã nhận định nhân thân, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ.

    [4.1]. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Sơn T thay đổi nội dung kháng cáo, bị cáo không xin hưởng án treo nữa mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt, việc xin rút kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

    Bị cáo đã nộp các tài liệu, chứng cứ mới gồm: Biên lai thu tiền án phí của bản án sơ thẩm; bị cáo được Trung ương đoàn Thanh niên cộng sản H7 tặng thưởng kỷ niệm chương vì thế hệ trẻ năm 2003, nhưng năm 2008 đã xảy ra lũ lụt bị cáo không còn giữ được Quyết định tặng kỷ niệm chương này mà chỉ còn kỷ niệm chương. Hiện nay bị cáo tuổi cao, sức khỏe yếu, năm 2019 bị cáo bị tai nạn gẫy 02 chân, mất 01 mắt, mắt còn lại mờ; bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Công C được tặng thưởng huận chương kháng chiến hạng nhất. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới ở cấp phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét cho bị cáo T.

    Bị cáo trình bày quá trình công tác bị cáo được tặng thưởng nhiều giấy khen, những nội dung này đã được Tòa cấp sơ thẩm xem xét.

    Việc bị cáo T nộp án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo, không phải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Bị cáo T đang được hưởng án treo theo bản án hình sự phúc thẩm số 98A/2020/HS- PT ngày 31/8/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang về tội “Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng” mà lại phát hiện trước khi được hưởng án treo bị cáo đã thực hiện một tội phạm “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” thì quyết định hình phạt đối với tội phạm “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” và không tổng hợp hình phạt với bản án cho hưởng án treo của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang. Trong trường hợp này, bị cáo phải đồng thời chấp hành 02 bản án và việc thi hành án do các cơ quan được giao trách nhiệm thi hành án hình sự phối hợp thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự theo khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo của Hội đồng Thẩm phán toà án nhân dân tối cao.

    Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ mới ở cấp phúc thẩm, nên Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin hưởng giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Sơn T.

    [4.2]. Đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu H, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Gia đình bị cáo xuất trình tài liệu chứng cứ mới gồm: Đơn đề nghị của Ủy ban nhân dân xã T, huyện L tiếp tục xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, trong thời gian công tác tại địa phương bị cáo đã có nhiều thành tích xuất sắc đóng góp cho địa phương trong mọi công việc và luôn chấp hành tốt pháp luật của địa phương, đề nghị cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội, sửa chữa khuyết điểm của bản thân đã gây ra, mau chóng được trở lại hòa nhập với cộng đồng, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội; Đơn đề nghị của bị hại Diệp Văn C1 về việc gia đình bị cáo đã đến xin lỗi, khắc phục hậu quả cho gia đình anh một số tiền, đề nghị xem xét cho bị cáo được hưởng mức án treo để bị cáo sớm hòa nhập với cộng đồng để trở thành công dân có ích cho xã hội; Ban quản lý thôn H, xã T xác nhận gia đình bị cáo đã nộp 10.000.000đồng để khắc phục hậu quả cho Ban Q1, đề nghị cho bị cáo được giảm nhẹ mức án. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới tại cấp phúc thẩm quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần xem xét cho bị cáo.

    Do bị cáo H có nhiều tình tiết mới ở cấp phúc thẩm, đã thực sự ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có nhân thân tốt có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử có căn cứ áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

    [4.3]. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Nguyễn Thị Thu H, bị cáo Nguyễn Sơn T, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

    [5]. Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo của bị cáo H, bị cáo T được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

    [6]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

    Vì các lẽ trên;

    QUYẾT ĐỊNH:

    Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Nguyễn Thị Thu H và Nguyễn Sơn T, sửa án sơ thẩm. Xử:

    1. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

    1.1. Căn cứ điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 359; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị Thu H 01 (một) năm 03 (ba) tháng 27 (Hai bẩy) ngày tù về tội “Giả mạo trong công tác”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 04/3/2023.

    Do bị cáo H đang bị tạm giam, thời hạn tù bằng thời gian bị cáo đã bị tạm giam nên cần căn cứ khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự trả tự do ngay cho bị cáo tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về tội khác.

    Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

    Cấm bị cáo Nguyễn Thị Thu H đảm nhiệm các chức vụ, công việc liên quan đến địa chính, đất đai trong thời hạn 02 (Hai) năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

    1.2. Căn cứ điểm d khoản 1, khoản 4 Điều 360; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: bị cáo Nguyễn Sơn T 06 (S2) tháng tù về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”, thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án.

    Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

    Cấm bị cáo Nguyễn Sơn T đảm nhiệm các chức vụ, công việc liên quan đến quản lý địa chính, đất đai trong thời hạn 01 (Một) năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

    2. Án phí hình sự phúc thẩm:

    căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2010/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Bị cáo Nguyễn Thị Thu H, bị cáo Nguyễn Sơn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

    3. Các quyết định khác

    của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

    Nơi nhận:

    • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
    • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
    • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
    • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
    • - CA-VKS-TA-CCTHADS sơ thẩm;
    • - Người tham gia tố tụng;
    • - Lưu HS, HCTP;

    T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

    THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

    Trần Thị Hà

    THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

    Đặng Văn Quyết Nguyễn Hải Vinh

    THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

    Trần Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 106/2024/HS-PT ngày 01/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 106/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 01/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Họ và tên: Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1983; Nơi ĐKTT và nơi ở hiện nay: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; tên gọi khác: không; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: công chức địa chính xây dựng xã T, huyện L; trình độ học vấn: 12/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Đảng viên Đ2. Ngày 13/4/2023, Ủy ban kiểm tra Huyện ủy L2 có Quyết định thi hành kỷ luật: khai trừ; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1961 (đã chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1962; gia đình bị cáo có 03 chị em ruột, bị cáo là thứ nhất trong gia đình; có chồng là Vũ Đức H1, sinh năm 1983 và 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: không Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 04 tháng 3 năm 2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (Có mặt tại phiên toà). 2. Họ và tên: Nguyễn Sơn T, sinh năm 1971; nơi ĐKTT và nơi ở hiện nay: thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; tên gọi khác: không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 12/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Đảng viên Đ2, nguyên chủ tịch UBND xã T giai đoạn 2013-2017. Ngày 15/12/2020, Huyện ủy L2 có Quyết định thi hành kỷ luật: khai trừ; con ông Nguyễn Công C, sinh năm 1935 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1935 (Đều đã chết); gia đình bị cáo có 09 anh em, bị cáo là thứ 6 trong gia đình; có vợ là Đoàn Thị H2, sinh năm 1978 và 02 con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2001. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Tại bản án số 98A/2020/HSPT ngày 31/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng”, thời gian thử thách 05 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Hiện bị cáo chưa chấp hành xong thời gian thử thách.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger