Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 106/2025/HSST

Ngày: 26/3/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Yến Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Thanh Nga
  2. Ông Lê Văn Toàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thuỳ Dương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Tuyết H - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 31/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số 133/2025/HSST-QĐ ngày 21/3/2025 đối với bị cáo:

Đỗ Duy M (tên khác: Nhí chùa) - Sinh năm: 1997 tại Bình Thuận. Nơi Nơi cư trú và chổ ở hiện: Khu phố A, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 00/12; Nghề nghiệp: lao động tự do. Con ông: không rõ; Con bà: Đỗ Thị P năm: 1978; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: Ngày 26/02/2019, Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 04 tháng 08 ngày tù về tội “Cố ý gây thương tích” (theo bản án số 06/2019/HSST), được trả tự do tại phiên tòa. Đã xóa án tích.

Bị can đến đầu thú, tạm giữ ngày 04/12/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Ông Đào Đình P1, sinh năm: 1992 – Địa chỉ: Khu phố A, phường M, thành phố P (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ ngày 30/11/2024 Đỗ Duy M, H, Phạm Minh T đang nhậu trước nhà của H2 ở khu phố A, phường M, thành phố P thì H2 rủ MTđi tìm Nguyễn Văn T1để giải quyết mâu thuẫn trước đó giữa H2 với T1thì Mvà Tđồng ý. Mthấy trong bụi cây bên hông nhà của H2 có 01 cây đao tự chế dài 80 cm không biết của ai nên đi đến lấy đao để cầm theo. H2 đi vào nhà lấy 01 cây đao tự chế dài 63,5 cm, M1 vậy nên bỏ lại cây đao dài 80 cm trong sân nhà H2 rồi điều khiển xe mô tô chở H2 đi. Lúc này, Nguyễn Văn H1 đến nhà H2 nên H2 rủ đi cùng, H1 đồng ý và đi vào trong sân nhà H2 lấy cây đao tự chế mà M2 bỏ lại rồi lên xe mô tô để T1 đi.

Mchở H2, Tchở H1đi ngang qua nhà Đào Đình Plở số D đường H, khu phố A, phường M, thành phố P thì thấy P1đang ngồi cùng với Trần Trúc L biết T1hay đến nhà Plchơi nên H2 dừng xe lại hỏi P1“Có thấy T1đâu không?” thì Plnói “T1đang ở trong nhà” rồi P1gọi Tlra. H2 bảo Tlra khu D khu phố A, phường M nói chuyện thì T1 đồng ý và điều khiển xe mô tô đi ra chỗ hẹn. P1và Lsợ T1bị nhóm của H2 đánh nên cũng điều khiển xe mô tô đến điểm hẹn. Khi gặp nhau, trong lúc nói chuyện, H2 dùng tay đánh 01 cái vào mặt T1thì P1chạy đến can ngăn và bảo T1đi về.

Khi nhóm của H2 lên xe chuẩn bị về thì Mnghe tiếng P1chửi ở phía sau. Cả nhóm về lại nhà của H2 tiếp tục nhậu, H1cất 02 cây đao ở trong bụi cây trước sân nhà H2. Do bực tức việc P1chửi mình nên M8 tự ý lấy cây đao tự chế dài 80 cm đi tìm chém P1H2, Tvà H1thấy vậy thì đã can ngăn nhưng M3 một mình đi đến nhà của P1thì thấy P1đang ngồi với Lở trước nhà nên Mhỏi P1“Lúc nãy mày chửi tao cái gì?” thì P1đứng dậy đối diện với MNghĩ P1định đánh mình nên M4 đao tự chế bằng tay phải chém 01 nhát theo hướng từ trên xuống trúng vào vùng vai trái của P1gây thương tích, sau đó Mvứt hung khí lại nhà Plrồi bỏ trốn. Sau khi M5 thì P1Tđiều khiển xe mô tô chở H1 đến nhà P1thì thấy Plbị thương nên đã đưa P1 đến bệnh viện đa khoa khu vực Mũi Né cấp cứu, sau đó T2 lại nhà P1lấy cây đao mà M7 để gây thương tích cho P1đem về nhà H2 cất giấu.

Sau khi chém P1gây thương tích, Minh bỏ trốn khỏi địa phương, đến ngày 04/12/2024, Mđến Công an phường M. Quá trình điều tra, M6 nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên.

Vật chứng thu giữ:

Thu giữ của Hứa H2:

  • 01 cây đao dài 80 cm bằng kim loại màu đen, cán dài 23cm, lưỡi dài 57 cm: là hung khí Mdùng để gây thương tích cho P1
  • 01 cây đao dài 63,5 cm bằng kim loại màu đen, cán dài 13 cm, lưỡi dài 50,5 cm: là hung khí H2 cầm theo khi đi tìm T1 giải quyết mâu thuẫn.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 59/KLTTCT-TTGĐYKPYBT ngày 13/12/2024 của Trung tâm P6 kết luận thương tích của Đ1 sau:

  1. Các kết quả chính:
    • Vết thương vùng ngực thượng đòn vai - cổ trái đang được điều trị hiện vết thương kích thước trung bình: (18 x 0,1) cm còn 13 mũi chỉ, do vật sắc tác động theo chiều hướng từ trên xuống dưới với lực tác động trung bình. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 4%.
    • Đứt mạch máu vùng cổ, đứt gân cơ, đứt dây chằng cột sống cổ C4, C5, C6 đang điều trị nên không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.
  2. Kết luận:
    • Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Đào Đình P2 thời điểm giám định là 4%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
  3. Kết luận khác:
    • Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y không quy định cố tật.
    • Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P đối tượng đến giám định bổ sung khi các tổn thương đứt mạch máu vùng cổ, đứt gân cơ, đứt dây chằng cột sống cổ C4, C5, C6 đã được điều trị ổn định.

Tại Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 102/KLTTCT-TTGĐYKPYBT ngày 03/01/2025 của Trung tâm P6 kết luận bổ sung thương tích của Đl sau:

  1. Các kết quả chính:
    • Vết thương vùng ngực hố thượng đòn cổ bên trái, gãy mỏm ngang C7 bên trái hiện ổn định. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 5%.
    • Đứt các dây chằng và cơ cột sống cổ C4, C5, C6, đứt nhánh động mạch giáp dưới, nhánh động mạch vùng cổ hiện ổn định. Không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.
    • Tràn dịch màng phổi hai bên lượng ít là do đối tượng nằm điều trị lâu ngày. Không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.
  2. Kết luận:
    • Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Đào Đình P1 tại thời điểm giám định bổ sung và tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 59/KLTTCT-TTGĐYKPYBT, ngày 13/12/2024 của Trung tâm P6 là: 4% + 5% = 9%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
  3. Kết luận khác: Không.

Xử lý vật chứng và dân sự:

Đối với cây đao dài 80 cm là hung khí Đỗ Duy M7 để chém Đào Đình P1gây thương tích, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết bảo quản, chờ xử lý.

Đối với cây đao dài 63,5 cm thu giữ của Hứa H2, Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ cùng tang vật đến cơ quan có thẩm quyền để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Về dân sự:

Đào Đình Plyêu cầu bồi thường tổng số tiền 190.145.000 đồng là chi phí chữa trị, thu nhập bị mất và tổn thất về tinh thần. Đỗ Duy M8 tác động mẹ ruột là bà Đỗ Thị P3 thường số tiền 27.000.000 đồng. P1nhận tiền và yêu cầu Mtiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 163.145.000 đồng.

Tại phiên toà, người bị hại Đào Đình Plyêu cầu bị cáo bồi thường số tiền là 113.245.000 đồng (bao gồm: Chi phí điều trị tại Bệnh viện Đ2 18.185.000; Chi phí điều trị tại Bệnh viện C 4.140.000 đồng; Tiền xe chuyển viện 2 lần 4.020.000 đồng; Mua thuốc ngoài theo toa Bác sỹ 2.300.000 đồng; Tiền mất thu nhập ngày công lao động 54.000.000 đồng; T2 công nuôi bệnh 7.200.000 đồng; Tiền tổn thất tinh thần 23.400.000 đồng). Gia đình bị cáo đã bồi thường 27.000.000 đồng, còn lại 86.245.000 đồng bị hại yêu cầu bị cáo Mtiếp tục bồi thường.

Quá trình điều tra, bị cáo Đỗ Duy M thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Đỗ Duy M đã vô cớ dùng đao tự chế là hung khí nguy hiểm chém Đào Đình P1gây thương tích với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 9% nên đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Hành vi nêu trên của bị cáo Đỗ Duy M đã bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận truy tố tại bản cáo trạng số 33/CT-VKSPT-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025, về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu quan điểm xử lý và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, i khoản 1, Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Đỗ Duy M từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Đối với cây đao dài 80 cm, bằng kim loại màu đen, cán dài 23cm, lưỡi dài 57cm là hung khí Đỗ Duy M7 để chém Đào Đình Plgây thương tích đây là phương tiện phạm tội đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Về dân sự: Đề nghị công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Đỗ Duy M9 ý bồi thường cho ông Đào Đ P1số tiền còn lại 86.245.000 đồng chi phí điều trị thương tích.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì và thống nhất với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng bị cáo Đỗ Duy M trình bày: Bị cáo thấy mình đã sai, sau khi phạm tội bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội đã thực hiện mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố PViện kiểm sát nhân dân thành phố Phan thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện tương đối đầy đủ và đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và truy tố, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về căn cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận: vào khoảng 23 giờ ngày 30/11/2024, tại trước số nhà D, khu phố A, phường M, thành phố P, Đỗ Duy M7 đao tự chế chém 01 nhát vào vùng vai trái của Đ3 thương tích với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 9%.

Đỗ Duy M10 cớ dùng đao tự chế là hung khí nguy hiểm chém Đào Đình P1gây thương tích với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 9%, là tình tiết định khung hình phạt “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ” quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của Đỗ Duy M8 trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, là nguy hiểm cho xã hội. Do đó, cần phải xử lý nghiêm khắc để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Cáo trạng của Viện kiểm sát thành phố P truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt như đã nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội thấy rằng: do mâu thuẫn nhỏ nhặt trong sinh hoạt Đỗ Duy M8 có hành vi dùng đao tự chế chém 01 nhát vào vùng vai trái của Đ3 thương tích với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 9% cho thấy bị cáo rất manh động, càn quấy liều lĩnh, nguy hiểm cho xã hội, xem thường pháp luật. Hành vi của bị cáo không những đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác mà còn ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an của địa phương và gây tâm lý bất an trong nhân dân, gây mất trật tự trị an địa phương. Do vậy cần xử lý nghiêm khắc, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đỗ Duy M8 tác động mẹ ruột là bà Đỗ Thị P4 bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo; sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã đến Cơ quan Công an đầu thú nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về nhân thân của bị cáo: Trên cơ sở cân nhắc tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, thấy rằng: Đỗ Duy M11 nhân thân đã từng bị xử phạt tù về tội “Cố ý gây thương tích”, hành vi nêu trên của Đỗ Duy M12 nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm sức khỏe của người khác gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm khắc để trừng trị, giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới; đồng thời giáo dục những người khác tôn trọng pháp luật và đấu tranh chống tội phạm, để bị cáo có cơ hội trở thành người có ích cho xã hội.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Phan Thiết đề nghị áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Đỗ Duy M13 09 đến 12 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Đối với cây đao dài 80 cm, bằng kim loại màu đen, cán dài 23cm, lưỡi dài 57cm là hung khí Đỗ Duy M7 để chém Đào Đình P1gây thương tích đây là phương tiện phạm tội đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Về dân sự: Đề nghị công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Đỗ Duy M9 ý bồi thường cho ông Đào Đ P1số tiền còn lại 86.245.000 đồng chi phí điều trị thương tích.

Xét thấy lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, để bị cáo có cơ hội trở thành người có ích cho xã hội do đó nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ này, xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự để bị cáo sớm cải thiện trở thành người có ích cho xã hội.

[6] Về vật chứng của vụ án: Đối với cây đao dài 80 cm, bằng kim loại màu đen, cán dài 23cm, lưỡi dài 57cm là hung khí Đỗ Duy M7 để chém Đào Đình P1gây thương tích đây là phương tiện phạm tội nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp (theo biên bản bàn giao vật chứng, tài sản số 120 ngày 25/02/2025).

[7] Về bồi thường dân sự: Ông Đào Đình P5 cầu Đỗ Duy M14 thường tổng số tiền 113.245.000 đồng ( bao gồm: Chi phí điều trị tại Bệnh viện Đ2 18.185.000; Chi phí điều trị tại Bệnh viện C 4.140.000 đồng; Tiền xe chuyển viện 2 lần 4.020.000 đồng; Mua thuốc ngoài theo toa Bác sỹ 2.300.000 đồng; Tiền mất thu nhập ngày công lao động 54.000.000 đồng; T2 công nuôi bệnh 7.200.000 đồng; Tiền tổn thất tinh thần 23.400.000 đồng). Gia đình bị cáo đã bồi thường 27.000.000 đồng, còn lại 86.245.000 đồng bị hại yêu cầu bị cáo Mtiếp tục bồi thường.

Tại phiên toà bị cáo Đỗ Duy M9 ý bồi thường cho ông Đào Đ P1số tiền còn lại 86.245.000 đồng chi phí điều trị thương tích. Đây là sự tự nguyện thoả thuận và không trái với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí Dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng: điểm a, i khoản 1 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Duy M15 tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Duy M16 (chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/12/2024.

2. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 cây đao dài 80 cm, bằng kim loại màu đen, cán dài 23cm, lưỡi dài 57cm (theo biên bản bàn giao vật chứng, tài sản số 120 ngày 25/02/2025).

Công nhận sự thoả thuận giữa bị cáo Đỗ Duy M9 ý bồi thường cho ông Đào Đ P1số tiền còn lại 86.245.000 đồng chi phí điều trị thương tích (bao gồm chi phí điều trị, thuốc, các chi phí khác...).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đỗ Duy M phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 4.312.250 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, người bị hại có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất của các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật, nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 02 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Án xử công khai có mặt bị cáo, người bị hại. Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/3/2025).

Nơi nhận:

  • - VKSND tp Phan Thiết;
  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - Công an tp. Phan Thiết;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND địa phương nơi b/c thường trú;
  • - Thi hành án tp. Phan Thiết
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đỗ Thị Yến Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 106/2025/HSST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự về tội cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 106/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đỗ Duy Minh phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger