Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2025/HSST

Ngày: 11-6-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Chế Hua

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Trần Thị Thanh Dung – Phó Giám đốc, Giảng viên Trung tâm bồi dưỡng chính trị Quận 7
  2. Võ Thị Phương Thuý

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thuỷ Tiên - Thư ký Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Gấm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án hình sự thụ lý số 114/2025/TLST-HS ngày 12/5/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2025/QĐXXST-HS ngày 29/5/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Phúc T, sinh năm 2005, tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; đăng ký thường trú: 1 Đ, Phường 1, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú trước khi bị bắt: 5 N, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Họ và tên cha: Trần Thọ H (đã chết); Họ và tên mẹ: Nông Thị N, sinh năm: 1966; Vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/7/2024 đến nay. (Có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại: Nguyễn Thanh S, sinh ngày 17/02/2011

Đăng ký thường trú: 57B Khu A, Khu phố A, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú hiện tại: 4 N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt tại phiên tòa)

Đại diện hợp pháp: Bà Trần Thị Mộng T1, sinh năm 1987 và ông Nguyễn Thanh V, sinh năm: 1980 (là cha, mẹ ruột của em Nguyễn Thanh S)

Cùng trú tại: 4 N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt tại phiên tòa)

- Người có quyền, nghĩa vụ liên quan: Trần Tấn T2, sinh ngày 09/11/2011; Nơi cư trú hiện tại: 5 N, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

Đại diện hợp pháp: Ông Trần Tấn P, sinh năm 1984 (là cha ruột của em Trần Tấn T2); Nơi cư trú hiện tại: 5 N, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Phúc T và Trần Tấn T2 có quen biết nhau, kết bạn zalo nói chuyện, thường rủ nhau đến tiệm internet để cùng chơi game. Khoảng 15 giờ 42 phút, ngày 11/7/2024, Trần Phúc T đang ở nhà thì Trần Tấn T2 gọi điện thoại và nhắn tin qua zalo dẫn đến chửi nhau, T2 có nhắn tin nội dung khiêu khích với T. T tức giận, xuống nhà bếp lấy một con dao cất giấu sau lưng quần, đi đến tiệm I, địa chỉ số F H, phường T, Quận G để gặp T2. Khi đến nơi, T đi đến chỗ T2 đang ngồi chơi game, liền lấy dao, vung dao chém về phía Tài 02 lần nhưng T2 né được. Lúc này, Nguyễn Thanh S, sinh ngày 17/02/2011 đang ngồi chơi game gần đó, thấy T chém T2 nên sợ nép sát vào góc tường. S vùng chạy nhanh ra ngoài, khi ngang qua T thì bị T vung dao chém ngang trúng vào vùng mặt và tai phải của S. Sau khi chém S xong, bị cáo T cất dao vào sau lưng, đi bộ về nhà cất dao trong nhà bếp. S được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện N1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Sau khi tiếp nhận thông tin, cùng ngày Công an phường T mời Trần Phúc T lên làm việc, làm rõ xử lý. Đến ngày 16/7/2024, bà Trần Thị Mộng T1 là mẹ của Nguyễn Thanh S có đơn yêu khởi tố vụ án hình sự và giám định thương tích đối với S.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 4371/KLTTCT-C09B ngày 25/07/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:

“1. Các kết quả chính:

  • - Vết thương vùng má phải, bờ mép gọn, kích thước trung bình.
  • - Vết thương vành tai – chũm phải không co rúm vành tai.
  • - Vỡ xương chũm phải.
  • - Đứt một phần tuyến mang tai phải.

2. Kết luận:

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của trẻ Nguyễn Thanh S tại thời điểm giám định là: 26% (Hai mươi sáu phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

3. Kết luận khác:

  • - Phân tích tỷ lệ:
    • + Vết thương vùng má phải, kích thước trung bình: 06%
    • + Vết thương vành tai – chũm phải không co rúm vành tai: 03%
    • + Vỡ xương chũm phải: 16%
    • + Đức một phần tuyến mang tai phải: 03%
  • - Thương tích vùng tai – chũm phải của Trẻ Nguyễn Thanh S gây nguy hiểm đến tính mạng.
  • - Hiện tại các tổn thương trên cơ thể Trẻ Nguyễn Thanh S đang trong quá trình điều trị và hồi phục, chưa thể đánh giá đầy đủ mức độ tổn thương cũng như di chứng để lại. Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đưa trẻ Nguyễn Thanh S đi giám định bổ sung sau khi các tổn thương đã hồi phục hoàn toàn.”

Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 7797/KLTTCT-C09B ngày 07/01/2025 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:

“1. Các kết quả chính:

  • - Sẹo vùng má phải, bờ mép gọn, kích thước trung bình
  • - Sẹo vành tai – chũm phải không co rúm vành tai.
  • - Vỡ xương chũm phải.
  • - Đứt một phần tuyến mang tai phải.

2. Kết luận:

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của trẻ Nguyễn Thanh S tại thời điểm giám định là: 26% (Hai mươi sáu phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

3. Kết luận khác:

  • - Phân tích tỷ lệ:
    • + Sẹo vùng má phải, kích thước trung bình: 06%
    • + Sẹo vành tai – chũm phải không co rúm vành tai: 03%
    • + Vỡ xương chũm phải: 16%
    • + Đức một phần tuyến mang tai phải: 03%”

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 4372/KLTTCT-C09B ngày 25/07/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:

“1.Các kết quả chính:

  • - Vết thương vùng má trái, bờ mép gọn, kích thước trung bình
  • - Vết thương vành tai- chũm phải không co rúm vành tai
  • - Vỡ xương chũm phải
  • - Đứt một phần tuyến mang tai phải

2. Kết luận:

  • - Các thương tích trên cơ thể Nguyễn Thanh S có đặc điểm phù hợp do vật sắc tác động gây ra
  • - Con dao (mẫu vật gửi giám định) gây ra được các thương tích trên cơ thể trẻ Nguyễn Thanh S.”

Kết luận giám định số 4391/KL-KTHS ngày 13/8/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:

“Trên con dao có dính máu người. Phân tích ADN từ mẫu máu này được kiểu gen nam giới và trùng với kiểu gen của bị hại Nguyễn Thanh S.”

* Vật chứng thu giữ:

  • - 01 (một) con dao (loại dao làm bếp, dài khoảng 35cm, có cán bằng gỗ) đã qua sử dụng. Thu giữ tại nhà Trần Phúc T tại địa chỉ 5 N, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • - 01 (một) điện thoại Vivo 2s, màu xám, số sêri: 10HC8A05H80005L, số Imeil: 865497062447844, số I: 865497062447841. Đây là điện thoại của Trần Phúc T đã liên lạc với Trần Tấn T2.
  • - 01 (một) áo thun dài tay màu xám đen và 01 (một) quần thun dài màu đen. Đây là đồ mà Trần Phúc T mặc khi gây thương tích cho Nguyễn Thanh S.

* Về trách nhiệm dân sự:

Tại Cơ quan điều tra, bà Trần Thị Mộng T1 là người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thanh S có đơn yêu cầu Trần Phúc T bồi thường số tiền là 43.488.893,2 (Bốn mươi ba triệu bốn trăm tám mươi tám nghìn tám trăm chín mươi ba phẩy hai) đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Trần Phúc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại Bản Cáo trạng số 44/VKS-CT ngày 24/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Trần Phúc T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 (thuộc trường hợp quy định tại các điểm a, c, i khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

  • - Bị hại và người đại diện hợp pháp trình bày: Giữ nguyên yêu cầu khởi tố Trần Phúc T và thống nhất với bản Cáo trạng đã truy tố và yêu cầu bị cáo Trần Phúc T bồi thường thiệt hại số tiền: 43.488.893 (Bốn mươi ba triệu bốn trăm tám mươi tám nghìn tám trăm chín mươi ba) đồng;
  • - Bị cáo trình bày: Thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã xác định. Về ý thức chủ quan khi chém S: Bị cáo không cố tình chém S, chỉ là bị cáo nghĩ S đang tiến đến tấn công mình nên mới có hành vi phạm tội với S, sau khi chém trúng S bị cáo sợ nên cất dao và rời khỏi hiện trường ngay. Về yêu cầu bồi thường của phía bị hại thì: Bị cáo nhận thấy đã gây ra thương tích cho bị hại nên bị cáo đồng ý với yêu cầu bồi thường của phía bị hại.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 phát biểu quan điểm luận tội:
  • Căn cứ vào toàn bộ chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm vấn công khai tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Trần Phúc T phạm tội “Cố ý gây thương tích”, áp dụng điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo mức án từ: 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù.

    Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Trần Phúc T bồi thường cho bị hại Nguyễn Thanh S số tiền: 43.488.893 (Bốn mươi ba triệu bốn trăm tám mươi tám nghìn tám trăm chín mươi ba) đồng;

    Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

  • - Bị hại Nguyễn Thanh S và những người đại diện hợp pháp trình bày: Thống nhất với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến bổ sung.
  • - Bị cáo Trần Phúc T không tự bào chữa, không tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo xin mức án khoan hồng để sớm về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại tại phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ nhặt khi nói chuyện qua lại trên ứng dụng mạng xã hội giữa Trần Phúc T và Trần Tấn T2, vào khoảng 15 giờ 42 phút, ngày 11/7/2024, bị cáo Trần Phúc T đã xuống nhà bếp lấy một con dao (loại dao làm bếp, dài khoảng 35cm, có cán bằng gỗ), cất giấu sau lưng quần rồi đi đến tiệm I, địa chỉ số F H, phường T, Quận G để gặp T2. Khi vào trong tiệm, T tiến đến chỗ T2 đang ngồi và tấn công về phía T2 02 lần nhưng không trúng. Lúc này, Nguyễn Thanh S, sinh ngày 17/02/2011 đang ngồi chơi game gần đó, thấy T chém T2 nên sợ nép sát vào góc tường rồi vùng chạy nhanh ra ngoài, khi ngang qua T thì S bị T vung dao chém 01 nhát trúng vào vùng mặt và tai phải. Sau khi chém trúng S, bị cáo T cất dao vào sau lưng rồi bỏ đi.

Theo Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 4371/KLTTCT-C09B ngày 25/07/2024; Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 7797/KLTTCT-C09B ngày 07/01/2025; Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 4372/KLTTCT-C09B ngày 25/07/2024, Kết luận giám định số 4391/KL-KTHS ngày 13/8/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh: Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của trẻ Nguyễn Thanh S là 26%.

Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, với tình tiết định khung “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc trường hợp quy định tại các điểm a, c, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự (“Dùng hung khí nguy hiểm”, “Phạm tội với người dưới 16 tuổi”, “Có tính chất côn đồ”).

Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm nghiêm trọng, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ đã dùng hung khí tấn công Trần Tấn T2, khi tấn công không trúng với T2 thì lại gây thương tích cho S thể hiện tính hung hăng coi thường pháp luật của bị cáo. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm vì không chỉ xâm phạm đến sức khỏe của công dân mà còn xâm phạm đến trật tự công cộng, trật tự xã hội nên cần phải xử lý nghiêm mới có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo riêng và ngăn ngừa chung trong xã hội.

[3] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa, bà Trần Thị Mộng T1 là đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thanh S yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền: 43.488.893 (Bốn mươi ba triệu bốn trăm tám mươi tám nghìn tám trăm chín mươi ba) đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền: 43.488.893 (Bốn mươi ba triệu bốn trăm tám mươi tám nghìn tám trăm chín mươi ba) đồng cho bị hại Nguyễn Thanh S.

Xét thỏa thuận giữa bị cáo và phía bị hại là hợp pháp nên Hội đồng xét xử ghi nhận và buộc bị cáo phải bồi thường theo quy định.

[5] Lập luận trên đây là căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[6] Xử lý vật chứng vụ án:

  • - Đối với vật chứng là 01 con dao (loại dao làm bếp, dài khoảng 35cm, có cán bằng gỗ) đã qua sử dụng, thu giữ tại nhà của bị cáo Trần Phúc T tại địa chỉ số E N, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh: Xét đây là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 áo thun dài tay màu xám đen và 01 quần thun dài màu đen: Xét đây là đồ vật mà bị cáo T mặc khi phạm tội, tại phiên tòa bị cáo không đề nghị nhận lại, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 điện thoại Vivo 2s, màu xám, số sêri: 10HC8A05H80005L, số Imeil: 865497062447844, số Imei2: 865497062447841: Có liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[7] Đối với em Trần Tấn T2, quá trình điều tra, bị cáo khai nhận có dùng dao chém T2 nhưng không trúng. Em Trần Tấn T2 và người đại diện hợp pháp của T2 không yêu cầu bồi thường tổn thất và không yêu cầu xử lý trách nhiệm đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017,

Xử phạt bị cáo Trần Phúc T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù được tính từ ngày 17/7/2024.

2. Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015; căn cứ các Điều 357, 468, 584, 585, 590 của Bộ luật dân sự năm 2015; căn cứ điểm b Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất phạt vi phạm,

Buộc bị cáo Trần Phúc T bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại Nguyễn Thanh S với số tiền là 43.488.893 (Bốn mươi ba triệu bốn trăm tám mươi tám nghìn tám trăm chín mươi ba) đồng.

Ngoài ra, bị cáo Trần Phúc T phải chịu về tiền lãi chậm thi hành kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền phải trả cho đến khi thi hành án xong.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao (loại dao làm bếp, dài khoảng 35cm, có cán bằng gỗ) đã qua sử dụng (thu giữ tại nhà của Trần Phúc T tại địa chỉ 5 N, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh); 01 (một) áo thun dài tay màu xám đen và 01 quần thun dài màu đen.
  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại Vivo 2s, màu xám, số sêri: 10HC8A05H80005L, số Imeil: 865497062447844, số I: 865497062447841.

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 061 ngày 21/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 7)

3. Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Pháp lệnh án phí và lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 2.174.445 (Hai triệu một trăm bảy mươi bốn nghìn bốn trăm bốn mươi lăm) đồng.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP. HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 7;
  • - Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Cơ sở Quận 7;
  • - Chi cục THADS Quận 7;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ, Công an Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Bị cáo;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu sổ án;
  • - Lưu vp, hồ sơ. (Tk. Tiên).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Chế Hua

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 106/2025/HSST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 106/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Phúc T phạm tội Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger