Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 106/2025/HS-ST

Ngày: 24 - 11 – 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Hoàng Chân

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đoàn Thị Liễu

Ông Trần Trung Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ưng - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 – tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Trần Thanh Phong - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 – tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2025/TLST-HS ngày 01/10/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2025/QĐXXST-HS ngày 13/10/2025 đối với bị cáo:

Sơn Thanh T, sinh ngày 02/12/2003 tại tỉnh Sóc Trăng (nay là thành phố Cần Thơ);

Nơi cư trú: Khóm T, phường N, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá (học vấn): 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Sơn Thanh L và bà Nguyễn Thị P.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Về nhân thân:

  • + Ngày 18/12/2018, bị Ủy ban nhân dân phường B, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (nay là phường N, thành phố Cần Thơ) áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi Trộm cắp tài sản với thời hạn 06 tháng, đã xóa tiền sự.

  • Ngày 24/11/2020, bị Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang (nay là Tòa án khu vực 12- Cần Thơ), xử phạt 03 năm tù về tội Hiếp dâm, quy định tại khoản 4 Điều 141 Bộ luật Hình sự, tại Bản án số 34. Đến ngày 08/10/2023, chấp hành xong hình phạt.

  • + Ngày 18/4/2025, bị Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng (nay là Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ, xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Hiện bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam K-Bộ C.

2

Bị cáo được trích xuất về xét xử tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 – An Giang.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Bị hại:

  • - Ông Nguyễn Thái H, sinh năm 1991 (Có mặt)

  • Địa chỉ: Số F đường N, phường R, tỉnh An Giang.

  • - Bà Lý Thị Bích T1, sinh năm 1988 (Có đơn xin vắng mặt)

  • Địa chỉ: Ấp B, xã T, thành phố Cần Thơ.

Người làm chứng:

  • - Ông Trần Hữu N, sinh năm 1993 (vắng mặt)

  • Địa chỉ: Khu phố M, xã C, tỉnh An Giang.

  • - Bà Nguyễn Thị Cẩm L1, sinh năm 1972 (vắng mặt)

  • Địa chỉ: Số F đường N, phường R, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sơn Thanh T, là người không có nghề nghiệp ổn định, nhân thân xấu. Vào ngày 13/11/2024, Sơn Thanh T đến huyện T, tỉnh Vĩnh Long chơi. Thông qua người tên P1 (chưa rõ nhân thân, có số điện thoại là 0787.846.xxx), T có số điện thoại của chị Lý Thị Bích T1 (còn gọi là V), nhân viên quán cà phê L2 999, xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Vào sáng ngày 14/11/2024, T điện thoại rủ chị T1 đi tỉnh Bạc Liêu (nay là tỉnh Cà Mau) chơi thì chị T1 đồng ý. Khi đó, T kêu T1 rủ thêm một người nữ đi cùng nên chị T1 rủ người tên T2 cũng là nhân viên của quán đi cùng. Khoảng 12 giờ, ngày 14/11/2024, nhóm của T, gồm: T, chị T1, chị T2 xuất phát đi tỉnh Bạc Liêu bằng xe ô tô do anh S (chưa rõ nhân thân) làm tài xế, xe này do T thuê. Khoảng 15 giờ cùng ngày, tất cả đến nơi và đến Nhà nghỉ T3, địa chỉ: Lô P, đường C T, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (nay là phường R, tỉnh An Giang) do bà Nguyễn Thị Cẩm L1 làm chủ thuê phòng nghỉ. Cả 04 người thuê 02 phòng, được bà L1 bố trí thuê phòng A101 và A201 (T1 và T ở cùng 01 phòng; S và T2 ở cùng 01 phòng). Khi vào phòng, T nói với chị T1 chỉ còn tiền mặt nên nhờ chị T1 chuyển số tiền 1.500.000 đồng vào tài khoản 999990766928054 của Ngân hàng H1 do T là chủ tài khoản để T chuyển khoản chung tiền số đề (theo lời khai của chị T1, trên đường đi T nói với chị T1 là T và mẹ bán số đề và cho tiền góp, qua làm việc với mẹ T là bà Nguyễn Thị P thì bà P không làm những công việc trên) chị T1 đồng ý và chuyển cho T số tiền trên. Sau đó, T rủ chị T1 đi mua sắm quần áo, đổi điện thoại, đổi vàng cùng T. Cả hai đón xe taixi, biển số: 68F-009.10 của Công ty N2 do anh Trần Hữu N làm tài xế đi tìm chỗ mua. Khoảng 16 giờ 20 phút cùng ngày, khi cả 03 đi đến cửa hàng quần áo Kim N1 do ông Nguyễn Thái H làm chủ thì dừng lại, T và chị T1 vào cửa hàng, trước khi vào T dặn anh N chờ rước T về. Khi vào cửa hàng, trong lúc nói chuyện T luôn xưng hô với chị T1

3

là vợ chồng và kêu ông H chọn cho vợ T (chị T1) vài bộ đồ. Trong lúc chị T1, lựa quần áo thì T đến gặp ông H nhờ ông H chuyển vào tài khoản của T 12.000.000 đồng rồi T sẽ trả lại cho ông H bằng tiền mặt ông H đồng ý và chuyển số tiền trên vào tài khoản 999990766928054 của Ngân hàng H1 do Sơn Thanh T làm chủ. Sau khi ông H chuyển tiền, T nói với ông H sẽ trả tiền chuyển khoản và tiền mua quần áo bằng tiền mặt cùng một lần và hỏi ông H địa chỉ tiệm vàng ở gần cửa hàng thì ông H hướng dẫn T đến khu vực cổng Tam Q để tìm rồi đi lấy quần áo cho chị T1 mặc thử. Lợi dụng lúc ông H đi lấy quần áo, T đi ra khỏi cửa hàng. Khi đó, ông H nhìn thấy nhưng nghĩ là H đi bán vàng và còn vợ T (chị T1) ở lại nên không có ý kiến gì. Sau khi ra khỏi của hàng ông H, T lên xe taxi của anh N và nói với anh N nhà có việc gấp kêu anh N chở đến Bến xe tỉnh K. Sau đó, T đón xe khách đi về thành phố V, tỉnh Hậu Giang, bỏ chị T1 lại cửa hàng của ông H và cũng không thông báo cho ông H ai là người trả tiền lại cho ông H. Khoảng 30 phút sau, ông H không thấy T quay lại nên kêu chị T1 điện thoại cho T, T nghe máy và nói về gần tới. Một lúc sau, chị T1 tiếp tục điện thoại cho T thì lúc này T tắt máy, cắt liên lạc với ông H và chị T1.

Ngoài ra, theo lời khai của bà Nguyễn Thị Cẩm L1, sau khi T nhận phòng khoảng 15 phút thì T xuống quầy lễ tân gặp bà L1 hỏi bà L1 có tiền mặt đưa H 8.000.000 đồng rồi H kêu tài xế chuyển khoản trả lại, bà L1 nói chỉ có 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng thì H cũng đồng ý lấy. Khi đó, bà L1 nghi ngờ H lừa đảo nên bà L1 viện cớ chủ nhà nghỉ đã lấy hết không đưa tiền theo yêu cầu của H.

Sau khi sự việc xảy ra, ngày 22/11/2024, ông H đến Công an phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (nay là phường R, tỉnh An Giang) tố giác hành vi của T. Ngày 19/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R, tỉnh Kiên Giang ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Sơn Thanh T. Quá trình điều tra, T thừa nhận có nhờ chị T1 và ông H chuyển khoản cho T số tiền như đã trình bày ở trên nhưng không thừa nhận hành vi phạm tội. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.

* Việc thu giữ tài liệu, đồ vật: 04 (bốn) đoạn dữ liệu được trích xuất từ Camera an ninh tại hiện trường, chứa trong 01 (một) đĩa DVD do ông Nguyễn Thái H giao nộp, đã đưa vào hồ sơ vụ án.

* Về xử lý vật chứng: Không.

Tại Bản cáo trạng số 40/CT-VKS ngày 30/8/2025 Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - An Giang đã truy tố bị cáo Sơn Thanh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Sơn Thanh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s

4

khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Sơn Thanh T mức án từ 12 tháng đến 18 tháng tù.

- Về phần dân sự: Bị hại Nguyễn Thái H yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 12.000.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận; bị hại Lý Thị Bích T1 không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền đã chiếm đoạt 1.500.000 đồng.

- Bị hại không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, bị hại yêu cầu bị cáo trả lại số tiền chiếm đoạt 12.000.000 đồng, thống nhất với nội dung truy tố và mức đề nghị hình phạt của đại diện Viện kiểm sát, ngoài ra không có ý kiến và yêu cầu gì khác.

- Bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, bị cáo thống nhất trả lại cho bị hại Nguyễn Thái H số tiền chiếm đoạt 12.000.000 đồng. Tại phần lời nói sau cùng bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhận thức được hành vi của bị cáo là sai trái, mong được xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm có cơ hội làm ăn lương thiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình tiến hành tố tụng và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Sơn Thanh T khai nhận hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo đúng với nội dung Bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Cụ thể: Với mục đích để có tiền tiêu xài, bị cáo đã bằng thủ đoạn tạo vỏ bọc là người có điều kiện kinh tế, đưa ra thông tin sai lệch về nghề nghiệp của bị cáo và gia đình, đưa ra thông tin sai lệch chị T1 là vợ của bị cáo, giả vờ hỏi thông tin địa chỉ về tiệm V1 để tạo niềm tin của chị Lý Thị Bích T1 và ông Nguyễn Thái H. Qua đó, đã chiếm đoạt của chị T1 1.500.000 đồng, ông H 12.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của các bị hại là 13.500.000 đồng. Đối với hành vi chiếm đoạt tài sản của chị T1, do số tiền chiếm đoạt không đủ định lượng theo quy định nên hành vi của bị cáo trong lần phạm tội này không cấu thành tội phạm.

Xét thấy lời khai nhận của bị cáo về hành vi và các tình tiết của vụ án phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ có trong hồ sơ. Theo đó, hành vi của bị cáo Sơn Thanh T đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự: “Người nào

5

bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – An Giang truy tố bị cáo với tội danh và Điều luật viện dẫn nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được tài sản hợp pháp của người khác là bất khả xâm phạm, được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều bị nghiêm trị; nhưng vì lòng tham, lười lao động chân chính, muốn có tiền nhanh chóng để tiêu xài cá nhân mà bị cáo đã lợi dụng lòng tin của chủ sở hữu nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân mà còn gây mất an ninh xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả bị cáo đã gây ra, để giáo dục, cải tạo bị cáo và đảm bảo được tính phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Sơn Thanh T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên có căn cứ cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi Trộm cắp tài sản, từng bị kết án về tội Hiếp dâm nhưng không lấy đó làm bài học, sửa chữa sai lầm mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện ý thức xem thường pháp luật, đây là tình tiết cần được xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Từ những phân tích nêu trên, sau khi nghị án Hội đồng xét xử thống nhất xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn, giam giữ bị cáo trong một thời gian nhất định để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo đồng ý trả lại cho bị hại Nguyễn Thái H số tiền chiếm đoạt 12.000.000 đồng nhưng chưa có tiền trả ngay nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Bị hại Lý Thị Bích T1 không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền đã chiếm đoạt 1.500.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

6

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Sơn Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 600.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Luật tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15 ngày 30/11/2024 của Quốc Hội;

    Tuyên bố bị cáo Sơn Thanh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Sơn Thanh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù;

    Căn cứ khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù của bản án số 18/2025/HS-ST ngày 18/4/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Cần Thơ) về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/12/2024.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 468, 585, 589 Bộ luật dân sự 2015;

    Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hai về việc bị cáo Sơn Thanh T phải trả cho bị hại Nguyễn Thái H số tiền chiếm đoạt 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án khoản tiền lãi trên số tiền cần phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Sơn Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm là 600.000 đồng (Sáu trăm ngàn đồng).

  4. Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, bị hại biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người tham gia tố tụng vắng mặt thì có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

7

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;

  • - VKSND Khu vực 1 – An Giang;

  • - THA dân sự tỉnh An Giang;

  • - Phòng HSNV Công an tỉnh An Giang;

  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;

  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;

  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trương Hoàng Chân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 106/2025/HS-ST ngày 24/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1, TỈNH AN GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 106/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sơn Thanh T - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger