|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 106/2025/HS-ST Ngày 20-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Phong Lan
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Mai
Bà Hà Thị Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 90/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 392/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Phạm Văn L, sinh năm 1989 tại Hưng Yên. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Đ, thôn A, xã H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; nơi ở hiện nay: không có nơi ở cố định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn K và bà Dương Thị G; có vợ là Nguyễn Thị T và 01 con; tiền án: có 02 tiền án: Bản án số 34/2006/HSST ngày 16/02/2006, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 24 tháng án tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (khi phạm tội bị cáo dưới 18 tuổi nên được coi là ko có án tích); Bản án số 157/2023/HS-ST ngày 28/6/2023, Toà án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/5/2024 (chưa xóa án tích); tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 02/01/2025; tạm giam ngày 09/01/2025; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 02/01/2025, Phạm Văn L đi một mình đến khu vực đường tàu Trần Nguyên H để tìm mua ma tuý Heroine về sử dụng. Tại đây, L gặp và giao dịch mua ma túy với 01 nam giới khoảng 60 tuổi ngồi trên xe môtô màu đỏ cạnh đường tàu. Lẩy đưa cho nam giới 300.000 đồng để mua ma túy, nam giới nhận tiền rồi chở L vào trong ngõ A T, phường A, quận L, Hải Phòng. Cả hai đi vào ngõ khoảng 20 mét thì nam giới dừng lại bảo L đứng chờ. Người nam giới tiếp tục điều khiển xe đi vào một ngách trong ngõ khuất tầm nhìn của L. Khoảng vài phút sau, nam giới quay lại đưa cho L 01 vỏ bao thuốc lá T (loại vỏ cứng) màu vàng đựng 01 túi nilon màu trắng, mép viền đỏ bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục, L biết đó là ma túy H1 nên cầm gói ma túy ở tay phải rồi đi bộ về đến khu vực đầu ngõ A T thì bị Tổ công tác của Công an phường A yêu cầu kiểm tra. Lúc này, L liền thả gói ma túy vừa mua từ tay phải xuống đất cạnh chân phải của L thì bị lực lượng Công an phát hiện thu giữ. Ngoài ra, lực lượng Công an còn thu giữ của Lẩy 01 vỏ bao thuốc lá Thăng L1 (loại vỏ cứng) màu vàng, số tiền 1.500.000 đồng và đưa L cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở Công an phường A, quận L, Hải Phòng để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Bản Kết luận giám định số 08/KL-KTHS ngày 07/01/2025 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận: “Chất bột màu trắng thu giữ của bị cáo gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,20 gam, loại: Heroine”
Tại Bản cáo trạng số 94/CT-VKSLC ngày 19/5/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Phạm Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đối với người nam giới bán ma túy cho L tại khu vực ngõ A T, phường A, quận L, Hải Phòng hiện chưa xác định được căn cước, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H không có cơ sở điều tra xử lý.
- Về vật chứng: Chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân lượng ma túy còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói đã được niêm phong trong phong bì có dấu niêm phong số: 08MT/PC09; 01 vỏ bao thuốc lá T (loại vỏ cứng) màu vàng và số tiền 1.500.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Phạm Văn L mức án từ 24 đến 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 08MT/PC09 đựng vỏ bao gói và lượng ma túy còn lại sau giám định (là vật Nhà nước cấm lưu hành); 01 vỏ bao thuốc lá Thăng L1 (loại vỏ cứng) màu vàng (không còn giá trị sử dụng); T1 lại bị cáo số tiền 1.500.000 đồng (Không liên quan đến việc phạm tội).
- Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H; Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
- Về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”:
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; vật chứng thu giữ; kết luận giám định của Phòng K1 - Công an thành phố H cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: Vào hồi 12 giờ 30 phút ngày 02/01/2025, tại khu vực đầu ngõ A T, phường A, quận L, Hải Phòng, Phạm Văn L có hành vi cất giữ trái phép 0,20 gam Heroine với mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo thỏa mãn yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân truy tố bị cáo Phạm Văn L theo tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm hại đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện; gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần xét xử bị cáo một mức án nghiêm, bắt cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[5] Bị cáo có 02 tiền án trong đó: Bản án số 34/2006/HSST ngày 16/02/2006, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 24 tháng án tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (khi phạm tội bị cáo dưới 18 tuổi nên được coi là không có án tích); Bản án số 157/2023/HS-ST ngày 28/6/2023, Toà án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (chưa xóa án tích) nên lần phạm tội này của bị cáo chỉ bị coi là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, song thể hiện bị cáo có nhân thân xấu, ý thức chấp hành pháp luật kém, cần phải xử lý nghiêm.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[6] Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo:
[7] Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần xử phạt bị cáo hình phạt tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
- Về hình phạt bổ sung:
[8] Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì ngoài hình phạt chính bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
[9] Đối với lượng ma túy còn lại và vỏ bao bì của mẫu vật thu giữ của bị cáo sau khi lấy mẫu gửi giám định (đã được niêm phong trong bì thư niêm phong số 08MT/PC09) và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long (loại vỏ cứng) màu vàng, xét là vật Nhà nước cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng nên căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
[10] Đối với số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng) thu giữ của bị cáo, xét không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cao nên căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo, nhưng cần tạm giữ lại để đảm bảo thi hành khoản tiền án phí đối với bị cáo.
- Về án phí hình sự sơ thẩm:
[10] Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo bản án:
[11] Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn L 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/01/2025.
- Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại và vỏ bao bì của mẫu vật sau khi lấy mẫu gửi giám định đã được niêm phòng trong bì thư niêm phong số 08MT/PC09 và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long (loại vỏ cứng) màu vàng thu giữ của bị cáo.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/4/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).
Trả lại bị cáo số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng) thu giữ của bị cáo, nhưng cần tạm giữ lại để đảm bảo thi hành khoản tiền án phí đối với bị cáo (Theo Ủy nhiệm chi lập ngày 02/6/2025 tại Kho bạc Nhà nước khu vực I)
- Về án phí hình sự sơ thẩm:
Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Văn L phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm
- Về quyền kháng cáo bản án:
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Phong Lan |
Bản án số 106/2025/HS-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 106/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Lẩy
