Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 106/2025/HS-PT

Ngày: 24-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Duy
Các Thẩm phán: Ông Trần Bá Nguyên
Ông Nguyễn Thanh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Hằng - Thư ký TAND tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kiều Ngân – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 66/2025/HS-PT ngày 24/4/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 142/2025/QĐXXPT-HS ngày 09 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo Dương Thị N, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Bị cáo có kháng cáo:

DƯƠNG THỊ N, sinh năm: 1986 tại tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Khu phố H, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Kinh doanh tự do; trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Dương Thanh T, sinh năm 1968 và bà: Nguyễn Thị S, sinh năm 1968; chồng: Phạm Phương H, sinh năm 1987 (đã ly hôn); có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt đi thi hành án từ ngày 17/6/2025 (theo Quyết định thi hành án số 61/2025/QĐ-CA ngày 23/5/225 của Chánh án Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định). Bị cáo có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Về nhân thân:

- Ngày 29/7/2024, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H, tỉnh Bình Định khởi tố bị can về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Ngày 29/4/2025, bị Toà án nhân dân tỉnh Bình Định xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 02 năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, tổng hợp hình phạt, buộc phải chấp hành chung của cả hai tội là 04 năm 03 tháng tù theo Bản án hình sự phúc thẩm số 71/2025/HS-PT ngày 29/4/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 09/7/2023, Dương Thị N thoả thuận và được sự đồng ý của Nguyễn Hữu L nên mang xe ô tô 77A-167.25 của Nguyễn Hữu L cầm cố cho Nguyễn Đình K trong thời hạn 20 ngày để lấy tiền. K nhận cầm cố xe ô tô 77A-167.25 cho N với số tiền 100.000.000 đồng, N trả nợ cho L 32.000.000 đồng. Đến khoảng tháng 10/2023, vì bị L liên tục đòi lại xe nhưng N không chuộc được xe để trả cho L nên nảy sinh ý định chiếm đoạt xe của Cao Nguyễn Quang K1 đem đi cầm cố để lấy xe 77A-167.25 về trả cho L. Để thực hiện mục đích này, N liên hệ với Cao Nguyễn Quang K1, nói dối với K1 cần thuê xe để sử dụng đi lại thì K1 đồng ý cho thuê xe với giá 700.000 đồng/ngày, N chuyển tiền cọc trước 5.000.000 đồng. Ngày 05/10/2023, K1 nhờ Hồ Ngọc T1 điều khiển xe ô tô hiệu Mitsubishi Xpander, biển số 77A-143.35, số máy: 4A91HC1704, số khung NC1WKN050338, màu sơn xám bạc đến giao cho N và làm hợp đồng thuê. Sau khi nhận được xe, N chụp ảnh xe, các giấy tờ xe gửi cho K để cầm cố. Sau khi K đồng ý nhận cầm cố, N điều khiển xe ô tô biển số 77A-143.35 đến xã T, huyện T, tỉnh Bình Định giao xe cho K rồi lấy xe ô tô 77A-167.25 về trả cho L. Khi quá thời hạn thuê xe, K1 liên hệ yêu cầu N trả lại xe thì N xin gia hạn thuê xe thêm vài ngày, K1 yêu cầu chuyển tiền thuê xe nhưng N không chuyển. Do N nhiều lần hứa hẹn nhưng không chuyển tiền thuê xe nên K1 đòi lại xe ô tô 77A-143.35 và xe 77A-180.72 (N thuê vào ngày 29/8/2023). Ngày 24/10/2023, N đem xe ô tô 77A-180.72 trả cho K1 và thừa nhận đã cầm cố xe ô tô 77A-143.35 cho K. Biết được việc này, K1 yêu cầu N dẫn lên gặp K, sau đó, K thoả thuận với K1: “Xe cứ để đây, khi nào N trả tiền xong thì sẽ trả lại xe cho K1” thì K1 đồng ý. Đến ngày 04/01/2024, K1 vẫn chưa nhận lại xe nên gửi đơn đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T.

Ngày 20/3/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi Xpander, biển số 77A-143.35, số máy: 4A91HC1704, số khung NC1WKN050338, màu sơn xám bạc tại thời điểm ngày 05/10/2023 có giá 410.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, Dương Thị N đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như trên.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Dương Thị N đã bồi thường cho anh Cao Nguyễn Quang K1 số tiền 15.000.000 đồng. Anh K1 không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Bản án hình sự sơ thẩm số: 45/2025/HSST ngày 27/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định đã quyết định:

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Thị N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Dương Thị N 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 13/3/2025, bị cáo Dương Thị N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 20/6/2025 bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt và đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét kháng cáo của bị cáo theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phát biểu quan điểm: Đề nghị HĐXX căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt, giảm cho bị cáo mức án 01 năm tù. Áp dụng Điều 56 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt 04 năm 03 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo Bản án hình sự phúc thẩm số 71/2025/HS-PT ngày 29/4/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 10 năm 03 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên được Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật tố tụng hình sự.

[2]. Nội dung vụ án: Do cần tiền để chuộc lại xe ô tô 77A-167.25 mà bị cáo N đã cầm cố trước đó, nên bị cáo nảy sinh ý định thuê xe ô tô tự lái của anh Cao Nguyễn Quang K1 để cầm cố lấy tiền chuộc lại xe ô tô 77A-167.25. Bị cáo nói dối với anh K1 cho bị cáo thuê xe ô tô để làm phương tiện đi lại, sau khi được anh K1 cho thuê xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi Xpander, biển số 77A-143.35, bị cáo điều khiển xe ô tô đến xã T, huyện T, tỉnh Bình Định cầm cố xe cho anh Nguyễn Đình K. Khi hết thời hạn thuê xe, anh K1 nhiều lần đòi lại xe nhưng bị cáo không trả nên anh K1 làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo, tài sản bị cáo chiếm đoạt trị giá 410.000.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, hiện tại bị cáo đang nuôi 03 con nhỏ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng, đủ điều kiện để áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt áp dụng. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì mới. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, nên mức hình phạt 07 năm tù của bản án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo, áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4]. Về tổng hợp hình phạt: Trước khi xét xử sơ thẩm vụ án nêu trên, bị cáo đã bị Toà án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 02 năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, tổng hợp hình phạt, buộc phải chấp hành chung của cả hai tội là 04 năm 06 tháng tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 92/2024/HSST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo nên Bản án sơ thẩm số 92/2024/HSST chưa có hiệu lực pháp luật. Do đó Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2025/HSST ngày 27/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tuyên phạt bị cáo mức án 07 năm tù, không tổng hợp hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 92/2024/HSST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn để buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án là đúng quy định. Tuy nhiên, đến ngày 29/4/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định đã xét xử phúc thẩm vụ án “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” đối với bị cáo và chấp nhận kháng cáo của bị cáo, xử phạt bị cáo 02 năm 03 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 02 năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, tổng hợp hình phạt, buộc phải chấp hành chung của cả hai tội là 04 năm 03 tháng tù. Bản án phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật và bị cáo đã đi chấp hành án. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của hai bản án, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung.

[5]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[7]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1 Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Dương Thị N.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Thị N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Dương Thị N 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo Bản án Hình sự phúc thẩm số 71/2025/HS-PT ngày 29/4/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 10 (mười) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án, ngày 17/6/2025.
  3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Dương Thị N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- Vụ GĐKT.1 TANDTC;

- VKSND tỉnh Bình Định;

- TA, VKS thành phố Quy Nhơn;

- Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Định;

- Cơ quan THAHS tỉnh Bình Định;

- Chi cục THADS thành phố Quy Nhơn;

- Cơ quan HSNV Công an tỉnh Bình Định;

- Những người tham gia tố tụng;

- Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Duy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 106/2025/HS-PT ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự phúc thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 106/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hspt
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger