|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 106/2025/HS-PT Ngày: 13-6-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Lộc.
Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Chum;
Ông Nguyễn Thanh Tùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 109/2025/TLPT-HS ngày 09 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Vũ Quốc K. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 65/2025/HS- ST ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Bị cáo bị kháng nghị: Vũ Quốc K, sinh năm 2005, tại tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn L và bà Nguyễn Thị V; bị cáo chưa có vợ, con; tiền sự: không; tiền án: Ngày 30/09/2024 bị Tòa án thị xã V, tỉnh Bắc Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 228/2024/HS-ST; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18 tháng 11 năm 2024 cho đến nay.
Ngoài ra, trong vụ án còn có 01 bị hại do không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 17/11/2024, bà Lương Thị Thùy L1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 61GA-060.36 đi đến khách sạn V1, để gặp Vũ Quốc K. Sau đó, K sử dụng xe mô tô biển số 61GA-060.36 chở bà L1 đi đến quán H tại phường C để ăn uống. Khi đến quán H, K gửi xe xong giao trả chìa khóa xe biển số 61GA-060.36 cho bà L1 cất giữ. Bà L1 để chìa khóa xe trong túi xách màu xám của bà L1 rồi cùng K đi vào quán H ăn uống. Đến khoảng 01 giờ sáng ngày 18/11/2024, K nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô biển số 61GA-060.36 của bà L1 để làm phương tiện đi lại. Thực hiện ý định, K quan sát thấy bà L1 không chú ý, K dùng tay phải mở khóa túi xách, tay trái lấy chìa khóa xe mô tô bỏ vào túi quần bên trái rồi nói với bà L1 là K đi ra ngoài nhắn tin với bạn thì bà L1 đồng ý. Sau khi ra ngoài, K đi đến bãi giữ xe và lấy xe mô tô biển số 61GA-060.36 chạy về khách sạn V1 lấy đồ đạc cá nhân rồi trả phòng rồi điều khiển xe mô tô biển số 61GA-060.36 đi đến nhà nghỉ H1 để thuê phòng nghỉ và cất giấu xe mô tô. Sau đó, K chặn liên lạc với bà L1 trên mạng xã hội Instagram. Đến khoảng 04 giờ 10 phút ngày 18/11/2024, bà L1 đến Công an phường C để trình báo sự việc. Đến khoảng 06 giờ ngày 18/11/2024, Công an phường C dựa vào thiết bị định vị trên xe xác định xe mô tô biển số 61GA-060.36 đang được cất giấu ở nhà nghỉ H1 nên đã phối hợp với Công an phường P tiến hành kiểm tra hành chính nhà nghỉ H1 thì phát hiện K đang ở phòng 324, xe mô tô biển số 61GA-060.36 để dưới nhà xe của nhà nghỉ. Sau đó, Công an phường C mời K về trụ sở Công an để làm việc thì K thừa nhận hành vi lấy trộm xe mô tô biển số 61GA-060.36 của bà L1 và đem xe đến cất giấu tại nhà nghỉ H1.
Theo Bản kết luận định giá tài sản số 303/KL-HĐĐGTS ngày 25/11/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xám-đen, biển số 61GA-060.36, trị giá 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng) (Bút lục số 53-54).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 65/2025/HS- ST ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
Về tội danh; tuyên bố bị cáo Vũ Quốc K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 56, Khoản 5, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Vũ Quốc K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; tổng hợp hình phạt 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 228/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Buộc bị cáo Vũ Quốc K chấp hành hình phạt chung là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18 tháng 11 năm 2024, được trừ vào thời gian tạm giữ từ 03/5/2024 đến ngày 09/5/2024 và tạm giam từ ngày 11/7/2024 đến ngày 30/9/2024.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Ngày 08/4/2025 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, ban hành Quyết định kháng nghị đề nghị xét xử phúc thẩm theo hướng tăng nặng hình phạt đối với bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến: Sau khi xét xử sơ thẩm, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 18/QĐ-VKSTDM theo hướng sửa bản án hình sự sơ thẩm số 65/2025/HS-ST ngày 31/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương theo hướng tăng hình phạt đối bị cáo Vũ Quốc K. Nhận thấy:
Trong vụ án này, bị cáo K đã lợi dụng mối quan hệ quen biết với bị hại, lén lút chiếm đoạt tài sản trị giá 35.000.000 đồng (tương đương với 2/3 trị giá tài sản chiếm đoạt theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 06 tháng đến 03 năm tù với mức thiệt hại từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng) và tại thời điểm phạm tội bị cáo K có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý nên có tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo K là người có nhân thân xấu, do trong quá trình Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N, thành phố Hà Nội khởi tố điều tra bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” thì bị cáo rời quê vào địa bàn thành phố T, tỉnh Bình Dương tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này. Vì vậy, mức hình phạt cấp sơ thẩm tuyên xử đối với bị cáo K 01 năm 06 tháng tù là chưa đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo. Do đó, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2025/HS- ST ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, theo hướng tăng nặng hình phạt đối với bị cáo từ 06 tháng đến 01 năm tù.
Bị cáo không tham gia tranh luận;
Trong lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sớm được trở về chăm lo cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu một, tỉnh Bình Dương được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Căn cứ vào lời khai của bị cáo và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 01 giờ ngày 18/11/2024, bị cáo Vũ Quốc K đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xám-đen, biển số 61GA-060.36 của bà Lương Thị Thùy L1.
- Bản kết luận định giá tài sản số 303/KL-HĐĐGTS ngày 25/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xám-đen, biển số 61GA-060.36, trị giá 35.000.000 (ba mươi lăm triệu) đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Vũ Quốc K về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
- Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tham lam mà bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.
- Xét Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương với nội dung đề nghị xét xử phúc thẩm theo hướng tăng nặng hình phạt đối với bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có 01 tiền án với mức hình phạt 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, với thời gian thử thách là 02 (hai) năm về tội “Trộm cắp tài sản” trong thời gian chấp hành hình phạt bị cáo tiếp tục phạm tội cùng với tội danh “Trộm cắp tài sản” nên lần phạm tội này là thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; chỉ trong thời gian chưa được 02 (hai) tháng kể từ khi Tòa án thị xã V, tỉnh Bắc Giang xét xử. Ngoài ra, bị cáo K là người có nhân thân xấu, do trong quá trình Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N, thành phố Hà Nội khởi tố điều tra bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” thì bị cáo rời quê vào địa bàn thành phố T, tỉnh Bình Dương tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này; thể hiện ý thức xem thường pháp luật, bất chấp hậu quả; mức hình phạt của bản án hình sự trước đây chưa đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo; tài sản bị cáo chiếm đoạt lần này có giá trị 35.000.000 (ba mươi lăm triệu) đồng; Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng mức hình phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù là chưa tương xứng với mức độ hành vi phạm tội, nhân thân; giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt; chưa đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Do đó, Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đề nghị tăng mức hình phạt đối với bị cáo K là có cơ sở chấp nhận.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị chấp nhận kháng nghị là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo không phải chịu.
- Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm a khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
-
Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 13/QĐ-VKSTDM ngày 08/4/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm 65/2025/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương như sau:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Quốc K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56; khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Vũ Quốc K 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tổng hợp hình phạt 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, về tội “Trộm cắp tài sản” của Bản án hình sự sơ thẩm số 228/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; buộc bị cáo Vũ Quốc K phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/11/2024, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ 03/5/2024 đến ngày 09/5/2024 và từ ngày 11/7/2024 đến ngày 30/9/2024.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Vũ Quốc K không phải chịu.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Văn Lộc |
Bản án số 106/2025/HS-PT ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản (phúc thẩm)
- Số bản án: 106/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Quốc Kh
