|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 106/2025/HNGĐ-ST Ngày: 18 - 6 - 2025 V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hiền
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Thể
Ông Bùi Văn Hồng
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh Giang - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 63/2025/TLST-HNGĐ, ngày 14 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2025/QĐXX-ST ngày 06 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thu P, sinh năm 2002; địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh – vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Trần Ngọc T, sinh 1999; địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh – vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Lê Thị Thu P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Ngọc T là vợ chồng, trước khi đi đến hôn nhân hai người được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 28/01/2022 tại UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian đến tháng 7/2023 thì chị P đi lao động ở nước ngoài. Thời gian đầu vợ chồng vẫn liên lạc với nhau bình thường nhưng do khoảng cách về địa lý nên cả hai thường xuyên bất đồng quan điểm và không còn liên lạc với nhau từ tháng 5/2024 cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị P yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Ngọc T.
Về con chung: Quá trình chung sống, chị và anh Trần Ngọc T có 01 con chung là cháu Trần Triệu V, sinh ngày 21/9/2022. Từ nhỏ đến nay cháu sống với chị P. Nay ly hôn chị P có yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con và không yêu cầu anh T đóng góp cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Mặt khác, do điều kiện công việc nên chị Lê Thị Thu P có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
Tại bản tự khai ngày 29/5/2025, bị đơn anh Trần Ngọc T trình bày: Anh thống nhất với trình bày của chị Lê Thị Thu P về thời gian và nơi đăng ký kết hôn. Tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án thì anh đang lao động ở C và hiện nay đã về nước sinh sống. Đối với yêu cầu xin ly hôn của chị P thì anh hoàn toàn đồng ý vì hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, giữa hai người từ lâu không còn tiếng nói chung và không thể hàn gắn tình cảm được với nhau nữa. Về con chung vợ chồng có 01 con chung là cháu Trần Triệu V, sinh ngày 21/9/2022 và đang do chị P chăm sóc. Do đó, anh T có nguyện vọng giao con cho chị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đồng thời, anh Trần Ngọc T có đơn xin được xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự; phân tích nội dung vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 37, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, 55, 57, 81, 82, 83, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Điều 11 Nghị Quyết 01/2024/ HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, cụ thể:
- Về tình cảm: Công nhận thỏa thuận ly hôn giữa chị Lê Thị Thu P với anh Trần Ngọc T.
- Về con chung: Giao con chung là Trần Triệu V, sinh ngày 21/9/2022 cho chị Lê Thị Thu P chăm sóc nuôi dưỡng, anh Trần Ngọc T được quyền thăm nom con chung không ai được phép cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết nên miễn xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên miễn xem xét.
- Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV, chị Lê Thị Thu P và anh Trần Ngọc T mỗi người phải chịu 75.000 đồng án phí ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Lê Thị Thu P cung cấp thông tin bị đơn anh Trần Ngọc T có địa chỉ cuối cùng trước khi xuất cảnh tại thôn S, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh và đã xuất cảnh sang nước Campuchia. Tại Công văn số 144/QLXNC-Đ1, ngày 18/4/2025 của Phòng Q Công an tỉnh H cũng xác nhận thông tin: anh Trần Ngọc T đã xuất ngày 06/7/2024 và chưa thấy thông tin nhập cảnh trên hệ thống. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Trần Ngọc T đã về nước và có bản tự khai trình bày ý kiến về yêu cầu xin ly hôn, nuôi con của chị Lê Thị Thu P. Đồng thời chị P và anh T đều có đơn xin giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
2. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ tình cảm: Chị Lê Thị Thu P và anh Trần Ngọc T có đăng ký kết hôn vào ngày 28/01/2022 tại UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc nên được xem là hôn nhân hợp pháp.
Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo chị Lê Thị Thu P và anh Trần Ngọc T cùng thống nhất trình bày là do vợ chồng sống xa nhau, ít có thời gian quan tâm, chia sẻ nên dẫn đến bất đồng quan điểm sống. Đến nay cả hai đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, không mong muốn tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân và thống nhất thuận tình ly hôn.
Từ yêu cầu của các đương sự và căn cứ quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 thì “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn ... thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn....”. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị Lê Thị Thu P và anh Trần Ngọc T đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được và sự thỏa thuận của hai người là tự nguyện, không vi phạm điều cấm. Do đó, cần công nhận sự thuận tình ly hôn giữa Lê Thị Thu P và anh Trần Ngọc T để hai người ổn định cuộc sống mới như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở.
[2.2]. Về con chung: Quá trình chung sống, chị Lê Thị Thu P và anh Trần Ngọc T có 01 con chung là cháu Trần Triệu V, sinh ngày 21/9/2022. Đồng thời, chị P và anh T đều thống nhất giao con chung Trần Triệu V cho chị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và anh Trần Ngọc T không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, để không làm ảnh hưởng đến tâm lý cũng như xáo trộn cuộc sống của cháu Trần Triệu V cần ghi nhận sự thỏa thuận của chị P và anh T về việc giao con chung cho chị P được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.
[2.3] .Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
3. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 55, 57, 81, 82, 83, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 điều 11 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị Thu P và anh Trần Ngọc T
- Về quan hệ con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của chị Lê Thị Thu P và anh Trần Ngọc T về việc giao con chung Trần Triệu V, sinh ngày 21/9/2022 cho chị Lê Thị Thu P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh Trần Ngọc T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về án phí: Buộc chị Lê Thị Thu P phải chịu 75.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị P đã nộp theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số [...] ngày 14/3/2025 qua số tài khoản 3949.0.1055068 của Cục thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh mở tại Kho bạc nhà nước tỉnh H. Anh Trần Ngọc T phải chịu 75.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Hiền |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
|
CÁC HỘI THẨM |
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Bùi Văn Hồng Nguyễn Tất T1 |
Trần Thị Thu H |
Bản án số 106/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 106/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Thu P xin ly hôn với Trần Ngọc T
