Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH AN GIANG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 106/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 10/6/2025

V/v ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Quyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt;
  2. Bà Mai Thị Thu Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên toà: Không.

Ngày 10 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 104/2025/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2025/QĐXX-ST ngày 07 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 149/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Ngọc N, sinh năm 1992; (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang. SĐT: 0383.209.xxx

2. Bị đơn: Anh Mai Văn B, sinh năm 1980; (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.

SĐT: 0968.554.xxx

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn chị Lê Ngọc N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Mai Văn B do tìm hiểu tiến đến hôn nhân, chung sống với nhau từ năm 2015, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn năm 2023 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 10/2020 thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, anh B không lo được cho gia đình nên dẫn đến cải vã, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Chị đã cố gắng hàn gắn cuộc sống vợ chồng nhưng không có kết quả. Chị và anh B ly thân từ đầu năm 2023 đến nay. Nhận thấy hôn nhân không còn hạnh phúc nên chị yêu cầu ly hôn với anh B.

- Về quan hệ con chung: có 01 con chung tên: Mai Văn M, sinh ngày 27/4/2017. Hiện con chung đang sống với chị ở Bình Dương. Khi ly hôn chị yêu cầu tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con. Do cháu đi học việc xin nghỉ khó nên chị không dẫn cháu về lấy nguyện vọng được.

- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Toà án đã nhiều lần triệu tập bị đơn anh Mai Văn B để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, cũng như tham gia phiên toà nhưng anh B đều vắng mặt không có lý do, đồng thời cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1.1] Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Lê Ngọc N khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con với bị đơn anh Mai Văn B, bị đơn anh B hiện có nơi cư trú tại: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là vụ án về tranh chấp ly hôn, nuôi con và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự:

Ngày 16/4/2025, nguyên đơn chị Lê Ngọc N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt được Hội đồng xét xử chấp nhận. Bị đơn anh Mai Văn B đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Ngọc N thấy:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Theo nguyên đơn chị N trình bày thì chị và bị đơn anh Mai Văn B do tìm hiểu mới tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nên hôn nhân của anh chị được xem là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 10/2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị N trình bày do bất đồng quan điểm sống, anh B không lo được cho gia đình nên dẫn đến cải vã, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Chị đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần mở phiên hoà giải nhằm tạo điều kiện để chị N và anh B hàn gắn tình cảm, nhưng chị N vẫn kiên quyết ly hôn, anh B được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do, cũng như không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Điều này chứng tỏ anh B không có nguyện vọng đoàn tụ với chị N. Chị N và anh B đã ly thân từ năm 2023 đến nay, nhưng anh, chị không hàn gắn tình cảm lại được.

Tất cả điều này cho thấy hôn nhân của chị N và anh B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N.

[2.2] Về quan hệ con chung: có 01 con chung tên: Mai Văn M, sinh ngày 27/4/2017. Hiện con chung đang sống với chị N. Xét thấy, cháu M đã sống ổn định với chị N, anh B không có ý kiến được trực tiếp nuôi dưỡng cháu M. Do đó, để đảm bảo cuộc sống của cháu được ổn định, không bị xáo trộn sau khi cha mẹ ly hôn nên căn cứ quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị N, giao cháu M cho chị N tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng. Chị N phải tạo điều kiện thuận lợi cho anh B được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung, không ai cản trở khi anh B thực hiện quyền này.

Về cấp dưỡng: Anh B không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị N không yêu cầu.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.

[3] Về án phí: Chị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0008177 ngày 26/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
  • Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Ngọc N.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Ngọc N được ly hôn với anh Mai Văn B.
  2. Về quan hệ con chung: có 01 con chung tên: Mai Văn M, sinh ngày 27/4/2017. Chị Lê Ngọc N được quyền tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Mai Văn M.

Về cấp dưỡng: Anh B không phải cấp dưỡng nuôi cháu M do chị N không yêu cầu.

Chị N cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh B thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Mai Văn M.

Nếu người không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người còn lại thì người còn lại có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng dựa trên các quy định của pháp luật.

  1. Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Toà án giải quyết. Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
  2. Về án phí: Chị Lê Ngọc N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0008177 ngày 26/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
  3. Về quyền kháng cáo: Chị Lê Ngọc N và anh Mai Văn B được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Hanh;
  • - Phòng KTNV& THA;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Kim Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 106/2025/HNGĐ-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 106/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chi L yêu cầu ly hôn với anh L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger