|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LÂM ĐỒNG Bản án số: 106/2025/HNGĐ - ST Ngày: 05-12-2025 V/v: “Không công nhận quan hệ vợ chồng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ninh Khắc Phong
Các hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Khắc Quế
Bà Nguyễn Thị Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bắc - Là thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 386/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2025, về tranh chấp: “Không công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh K, sinh năm: 1996; địa chỉ: Thôn A, xã B, tỉnh Lâm Đồng.
Căn cước công dân số: [...] do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 16/9/2021.
2. Bị đơn: Chị Ka C, sinh năm: 1999; địa chỉ: Thôn A, xã B, tỉnh Lâm Đồng.
Căn cước công dân số: [...] do Bộ C1 cấp ngày 19/02/2025.
(Các đương sự đều vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 20/10/2025 và quá trình tố tụng nguyên đơn anh K trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Ka C sau thời gian tự nguyện tìm hiểu đã tiến đến hôn nhân vào năm 2017 theo phong tục của người đồng bào dân tộc Cơ Ho nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến giữa năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn, cãi vã. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong vấn đề làm ăn kinh tế và trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Vợ chồng đã cố gắng hòa giải và bỏ qua cho nhau để gia đình thuận hòa, êm ấm nhưng mâu thuẫn vẫn không hòa giải được mà ngày càng trầm trọng hơn. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng với chị Ka C.
- Về con chung: Anh và chị Ka C có 02 người con chung là cháu Ka Thị Thu H, sinh ngày 29/01/2018 và cháu Ka Ngọc Y, sinh ngày 27/8/2020. Nay anh đồng ý giao cháu Ka Thị Thu H và cháu Ka Ngọc Y cho chị Ka C trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành; anh sẽ cấp dưỡng 2.000.000đ/01 con/01 tháng, thời gian cấp dưỡng từ khi có quyết định của Tòa cho đến khi các con trưởng thành.
- Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Anh và chị Ka C không có nợ chung.
Theo bản tự khai và quá trình tố tụng, bị đơn chị Ka C trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh K sau thời gian tự nguyện tìm hiểu đã tiến đến hôn nhân vào năm 2017 theo phong tục của người đồng bào dân tộc không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng sống hạnh phúc đến giữa năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn, cãi vã. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong mọi vấn đề của cuộc sống thường ngày, đến nay mâu thuẫn không thể giải quyết được. Nay, đối với yêu cầu khởi kiện của anh K thì chị cũng đồng ý, đề nghị Tòa án tuyên bố chị và anh K không phải là vợ chồng.
- Về con chung: Chị và anh K có 02 người con chung là cháu Ka Thị Thu H, sinh ngày 29/01/2018 và cháu Ka Ngọc Y, sinh ngày 27/8/2020. Nay chị đồng ý tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu cho đến khi trưởng thành; anh K có nghĩa vụ cấp dưỡng 2.000.000đ/01 con/01 tháng.
- Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Chị và anh K không có nợ chung.
Do anh K và chị Ka C chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Vì vậy, Tòa án không hòa giải về quan hệ hôn nhân mà đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, nguyên đơn anh K và bị đơn chị Ka C đều vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh K đối với bị đơn chị Ka C.
Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh K và chị Ka C.
Về con chung: Giao cháu Ka Thị Thu H, sinh ngày 29/01/2018 và cháu Ka Ngọc Y, sinh ngày 27/8/2020 cho chị Ka C tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành; anh K có nghĩa vụ cấp dưỡng 2.000.000đ/01 con/01 tháng.
Về tài sản chung: Các bên không yêu cầu giải quyết nên không xem xét đến.
Về nợ chung: Các bên xác nhận không có nợ chung nên không xem xét đến.
Về án phí: Buộc anh K phải chịu 600.000đ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn anh K khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng với chị Ka C; bị đơn chị Ka C có địa chỉ cư trú tại xã B, tỉnh Lâm Đồng. Vì vậy, Tòa án xác định đây là tranh chấp “Không công nhận quan hệ vợ chồng” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng theo quy định tại khoản 7, 8 Điều 28; Điều 35; khoản 5 Điều 36; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh K và chị Ka C chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2017 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống hạnh phúc đến giữa năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn, cãi vã do bất đồng quan điểm. Cả anh K và chị Ka C đều đề nghị Tòa án tuyên bố anh chị không phải là vợ chồng. Do anh K và chị Ka C chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2017 nhưng không đăng ký kết hôn mặc dù đủ điều kiện đăng ký kết hôn, đến nay tình cảm giữa các bên thực sự không còn. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 9, 14 và 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh K và chị Ka C.
[2.2] Về con chung: Anh K và chị Ka C có 02 người con chung là cháu Ka Thị Thu H, sinh ngày 29/01/2018 và cháu Ka Ngọc Y, sinh ngày 27/8/2020.
Cả anh K và chị Ka C đều thống nhất giao 02 con chung cho chị Ka C tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành; anh K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là 2.000.000đ/01 con/01 tháng.
Mặt khác, cháu Ka Thị Thu H (đã trên 7 tuổi) có nguyện vọng được ở với mẹ là chị Ka C.
Vì vậy, cần giao cháu Ka Thị Thu H và cháu Ka Ngọc Y cho chị Ka C tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành; anh K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là 2.000.000đ/01 con/01 tháng, thời gian cấp dưỡng từ tháng 12/2025 cho đến khi con trưởng thành là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.3] Về tài sản chung: Anh K và chị Ka C tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét đến.
[2.4] Về nợ chung: Anh K và chị Ka C xác nhận không có nợ chung nên không xem xét đến.
[3] Về án phí: Buộc nguyên đơn anh K phải chịu 600.000đ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm (300.000đ tiền án phí không công nhận vợ chồng và 300.000đ tiền án phí cấp dưỡng nuôi con). Bị đơn chị Ka C không phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào khoản 7, 8 Điều 28; Điều 35; khoản 5 Điều 36; khoản 1 Điều 39; các Điều 205, 207, 220; 227, 228, 238, 262, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025;
- - Áp dụng các Điều 9, 14, 53, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Áp dụng khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh K đối với bị đơn chị Ka C.
Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh K và chị Ka C. - Về con chung: Giao cháu Ka Thị Thu H, sinh ngày 29/01/2018 và cháu Ka Ngọc Y, sinh ngày 27/8/2020 cho chị Ka C tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Anh K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000đ/01 con/01 tháng, thời gian cấp dưỡng từ tháng 12/2025 cho đến khi phát sinh điều kiện chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. - Về án phí: Buộc anh K phải chịu 600.000đ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000đ đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006659 ngày 27/10/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng; anh K còn phải nộp 300.000đ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị Ka C không phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án, các đương sự được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - THADS tỉnh Lâm Đồng; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Ninh Khắc Phong |
5
Bản án số 106/2025/HNGĐ - ST ngày 05/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng về không công nhận quan hệ vợ chồng
- Số bản án: 106/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh K' Choan yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng với chị Ka Cơ
