Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12 - HÀ NỘI

Bản án số:106/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 05/12/2025

V/v: Tranh chấp ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Cường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đại Đồng.

Ông Phan Mạnh Tưởng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Vinh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khuyến – Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 221/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 79/2025/QÐST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh ngày 27/7/1996.

Số Căn cước công dân: [...].

Nơi đăng ký thường trú: thôn Đ, xã P, thành phố Hà Nội.

- Bị đơn: Anh Nghiêm Xuân H1, sinh ngày 08/12/1990.

Số Căn cước công dân: [...].

Nơi đăng ký thường trú: thôn C, xã Ứ, thành phố Hà Nội.

(Nguyên đơn vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nghiêm X H1tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 30/12/2022 tại UBND xã T, thành phố Hà Nội (nay là xã Ứ, thành phố Hà Nội). Vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian ngắn thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hòa hợp, bất đồng trong quan điểm, lối sống, thường xuyên cãi vã. Chị đã tìm nhiều biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân, mỗi người cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng đã hết, không thể đoàn tụ, chị xin ly hôn anh Nghiêm X H1 để ổn định cuộc sống.

- Về con chung: Chị và anh Nghiêm X H1 có 01 con chung là cháu Nghiêm X H2sinh ngày 08/02/2023. Hiện nay cháu H2đang ở với anh H2 ly hôn, chị đồng ý để anh H1tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu H3.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nghiêm X H1 mặt dù đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không có văn bản trình bày quan điểm, ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H

Tòa án tiến hành làm việc với ông Nghiêm Đình T– Trưởng thôn C, xã Ứ, thành phố Hà Nội thể hiện: Anh Nghiêm X H1có vợ là chị Nguyễn Thị H4 quyền thôn Cnắm bắt được đời sống tình cảm vợ chồng anh H1chị Hxảy ra mâu thuẫn trong cuộc sống, Tòa án đã 02 lần về thôn C liên hệ xác minh tình trạng hôn nhân của vợ chồng anh Hldo chị H5 02 lần gửi đơn xin ly hôn đến Tòa án. Địa phương đã nhiều lần động viên, khuyên bảo vợ chồng anh H1chị HAnh H1và mẹ đẻ là bà L đang sinh sống ở nội thành Hà Nội, thỉnh thoảng anh H1mới về nhà ở thôn C nay nhà ở anh H1khóa cửa, không có ai ở nhà. Tại buổi làm việc ông Nghiêm Đình T1 gọi điện thoại cho anh H1thì anh H1cho biết đã biết việc chị Hó có yêu cầu xin ly hôn với anh nhưng anh H1không về Tòa án giải quyết được. Ông T2 đã thông báo cho anh Hlbiết việc Tòa án niêm yết Quyết định đưa vụ án ra xét xử và một số văn bản khác.

Tòa án tiến hành xác minh tại UBND xã Úthành phố H12 thể hiện: anh Nghiêm X H1 có đăng ký kết hôn số 62/2022 ngày 30/12/2022 tại UBND xã T, thành phố Hà Nội (nay là xã Ứ, thành phố Hà Nội) với chị Nguyễn Thị H7 Hiện nay đời sống chung vợ chồng giữa anh H1và chị H8 ra mâu thuẫn trầm trọng, kéo dài, cuộc sống chung vợ chồng không hòa thuận, mục đích hôn nhân không đạt được. Địa phương đã nhiều lần khuyên giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng anh H1 và chị H đã sống ly thân. Anh Nghiêm X H1 và chị Nguyễn Thị H có 01 con chung là cháu Nghiêm X H2sinh ngày 08/02/2023. Quan điểm của địa phương: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Nghiêm X H1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội (Thẩm phán, Thư ký tòa án) đã thụ lý, thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử theo đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật có liên quan trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn chưa chấp hành các quy định của pháp luật có liên quan trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa nguyên đơn vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H, xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nghiêm X H1.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nghiêm X H2sinh ngày 08/02/2023. Chị H9 ý để anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng cháu H2vì cháu H2đang sinh sống ổn định với anh H1. Do vậy, giao anh Nghiêm X H1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu cháu Nghiêm X H2. Do không ghi nhận được yêu cầu của anh Nghiêm X H1 về việc cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị H đến khi các bên có yêu cầu.

Tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn trình bày không có và không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Chị Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu xin ly hôn anh Nghiêm X H1 nên thuộc tranh chấp về Ly hôn theo quy định khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nghiêm X H1 đăng ký thường trú tại: thôn C, xã Ứ, thành phố Hà Nội nên thuộc thẩm quyền thụ lý và giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội theo quy định điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo thủ tục chung.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị H và anh Nghiêm X H1 được xây dựng trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thành phố Hà Nội (nay là xã Ứ, thành phố Hà Nội) vào ngày 30/12/2022 nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, không có hạnh phúc và đã sống ly thân, mỗi người một nơi, không còn quan tâm chăm sóc đến nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng anh Nghiêm X H1 không có mặt tại Tòa án để trình bày quan điểm, ý kiến. Việc này chứng tỏ anh Nghiêm X H1 không quan tâm đến cuộc sống chung và hạnh phúc vợ chồng. Chị H cương quyết xin ly hôn. Xét thấy, các quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh H1 đã bị vi phạm nghiêm trọng, mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện nay sống ly thân mỗi người một nơi. Do vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị H10 đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Hà Nội là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2]. Về con chung:

Chị Nguyễn Thị H và anh Nghiêm X H1 có 01 con chung Nghiêm Xuân H2sinh ngày 08/02/2023. Con khoẻ mạnh, hiện nay đang ở với anh H1.

Xét yêu cầu giao con chung cho anh H1trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung của chị H, Hội đồng xét xử thấy: Từ khi vợ chồng ly thân đến nay, cháu Hiếu sinh S định với anh H1, được anh H1chăm sóc, nuôi dưỡng đầu đủ. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi, tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển toàn diện của con chung nên cần thiết chấp nhận yêu cầu của chị H và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Hà Nội, theo đó giao con chung Nghiêm Xuân H2 cho anh H1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị H11 đến khi có sự thay đổi khác.

[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung:

Nguyên đơn trình bày không có, không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí:

Nguyên đơn phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4]. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 235; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 62/2022 do UBND xã T, thành phố Hà Nội (nay là xã Ứ, thành phố Hà Nội cấp ngày 30/12/2022;

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị H đối với anh Nghiêm X H1.

Xử chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nghiêm X H1.

2. Về con chung: Xác nhận chị Nguyễn Thị H và anh Nghiêm X H1 có 01 con chung Nghiêm Xuân H2sinh ngày 08/02/2023.

Giao con chung Nghiêm Xuân H2sinh ngày 08/02/2023 cho anh Nghiêm X H1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với chị H cho đến khi có quyết định thay đổi khác.

Sau khi ly hôn, chị Nguyễn Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung. Người trực tiếp nuôi con và các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009927 ngày 02/10/2025 tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 12 - Hà Nội.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H, bị đơn anh Nghiêm X H1 vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND khu vực 12 - Hà Nội;
  • - Phòng THADS khu vực 12 - Hà Nội;
  • - UBND xã Ứng Hòa, TP Hà Nội;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Việt Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 106/2025/HNGĐ-ST ngày 05/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 106/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án số:106/2025/HNGĐ-ST
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger