|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 106/2025/DS-PT Ngày 20 - 8 - 2025 “V/v Tranh chấp hợp đồng vay tiền” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Danh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Sơn
Ông Hoàng Văn Sỹ
- Thư ký phiên toà: Ông Đường Thái Sơn - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Phùng Ngọc Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 28/2025/TLPT-DS ngày 14 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tiền”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2025/DS-ST ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2025/QĐXXPT-DS ngày 11 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1959; nơi cư trú: Thôn L, xã N, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Thôn L, xã H, tỉnh Phú Thọ), có mặt.
- Bị đơn: Ủy ban nhân dân xã N, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Vũ Xuân H2, sinh năm 1957; nơi cư trú: Thôn L, xã N, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã H, tỉnh Phú Thọ), vắng mặt.
- Người làm chứng: Bà Lê Thị O, sinh năm 1957; nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã H, tỉnh Phú Thọ), vắng mặt
- Người kháng cáo: Nguyên đơn - bà Nguyễn Thị H.
Địa chỉ: Xã N, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đình H1 - Chủ tịch UBND.
Cơ quan kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn: Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh Phú Thọ; địa chỉ: xã H, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Huy C - Chủ tịch UBND xã, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 22/9/2020, ngày 11/4/2023 và các lời trình bày tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đại diện theo uỷ của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Huỳnh T trình bày:
UBND xã N, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc có vay tiền của bà H 04 lần cụ thể như sau:
Lần 1: Ngày 01/01/1995, Chủ tịch UBND xã lúc đó là ông Vũ Xuân H2, cùng kế toán là ông Nguyễn Văn T1 có vay của bà Nguyễn Thị Hằng S tiền: 20.000.000đồng, mục đích vay là để chi trả cho xí nghiệp X tiền xây nhà 02 tầng lớp học cấp 1 Nhân Đạo với lãi suất thỏa thuận là 3%/tháng, lãi 03 tháng cộng vào gốc 1 lần, thời gian tính lãi từ ngày 01/01/1995 trở đi. Khi cần thanh toán bà H phải thông báo trước cho UBND xã 1 tháng, trả gốc và lãi một lần.
Lần 2: Ngày 25/01/1995, Chủ tịch UBND xã lúc đó là ông Vũ Xuân H2, cùng kế toán là ông Nguyễn Văn T1 có vay của bà Hằng số tiền 5.000.000đồng với lãi suất thỏa thuận 3%/tháng để trả lương hưu và phục vụ tết Ất Hợi; thời gian vay là 03 tháng, lãi suất kể từ ngày 26/01/1995; thời gian thanh toán trả gốc cộng lãi hết ngày 26/4/1995. Hai bên có viết giấy vay và có ký đóng dấu của UBND xã.
Lần 3: Ngày 24/6/1995, Chủ tịch UBND xã là ông Vũ Xuân H2 vay của bà Hằng số tiền 3.000.000đồng với lãi suất thỏa thuận 3%/tháng; thời hạn vay là 06 tháng, mục đích vay để làm thủ tục xin vốn xây dựng trường học, phương thức thanh toán là trả gốc và lãi 01 lần, thời gian tính lãi kể từ ngày 25/6/1995 đến hết ngày 25/12/1995. Hai bên đều viết giấy biên nhận và có ký, đóng dấu.
Lần 4: Ngày 26/7/1995, ông Nguyễn Văn S1 là chủ nhiệm Hợp tác xã Đ và ông Nguyễn Kim T2 là kế toán có vay của bà Nguyễn Thị Hằng S tiền 4.000.000đồng với lãi suất 3%/ tháng, thời hạn vay là 06 tháng, tính lãi từ ngày 26/7/1995, thời hạn vay 03 tháng, mục đích vay để dùng vào công việc tập thể. Khi đến hạn Hợp tác xã phải thanh toán cho bà H đủ gốc và lãi. Hai bên có viết giấy hợp đồng vay tiền.
Quá trình thanh toán, UBND xã N đã trả được cho bà Hằng số tiền cụ thể như sau:
- - Ngày 31/8/1999 trả cho bà Hằng số tiền lãi: 528.000đồng
- - Ngày 05/5/2000 trả cho bà H 1.000.000đồng.
- - Ngày 24/12/2000 trả cho bà H 13.000.000đồng
- - Ngày 28/10/2001 trả cho bà H 1.000.000đồng
- - Ngày 28/5/2002 trả cho bà H 2.000.000đồng
- - Ngày 10/01/2002 trả cho bà H 2.000.000đồng
- · Ngày 30/3/2003 trả bà H 2.000.000đồng
- - Ngày 18/9/2003 trả cho bà H 1.500.000đồng.
- - Ngày 27/3/2004 trả cho bà H 2.000.000đồng
- - Ngày 05/02/2005 trả cho bà H 20.000.000đồng.
Trong số tiền UBND xã N đã thanh toán cho bà H là tiền lãi, chỉ có số tiền 1.500.000đồng bà H xác nhận là trả tiền gốc. Từ tháng 03/2005 đến nay, sau rất nhiều lần bà H đôn đốc đề nghị UBND xã N thanh toán các khoản tiền còn lại nhưng đến nay UBND xã N không thanh toán thêm được bất kỳ khoản tiền nào khác. Hiện nay UBND xã N còn nợ bà H số tiền cụ thể như sau:
Từ 25/01/1995 đến hết tháng 12/2005 bà H yêu cầu UBND xã N phải trả cho bà 03 khoản nợ lần 1, lần 2 và lần 3 kể trên theo thỏa thuận tính lãi 3%/tháng và 03 tháng lãi lại cộng vào tiền gốc. Tổng số tiền bà H yêu cầu trong thời gian này là: 1.049.573.890đồng
- Từ tháng 01/2006 đến nay tính lãi 1.5%/tháng trên tổng số tiền gốc là 1.049.573.890đồng. Tổng số tiền bà H yêu cầu đến ngày xét xử sơ thẩm là: 28.751.013.889đồng.
Đối với giấy vay tiền lần 4 với số tiền 4.000.000đồng, tại phiên tòa bà H rút yêu cầu đối với số tiền này, bà chỉ yêu cầu UBND xã N đôn đốc Hợp tác xã Nhân Đạo trả lại bà Hằng số tiền này.
Người đại diện theo pháp luật của bị đơn trình bày:
Ông là Chủ tịch UBND xã N từ 07/5/2020 đến nay. Thời điểm năm 1995 Chủ tịch UBND xã lúc đó là ông Vũ Xuân H2 có quan hệ quen biết trong gia đình với bà Nguyễn Thị H. Bà H có xuất trình 03 giấy vay tiền trong năm 1995 về việc UBND xã N có vay tiền của bà H, trong giấy vay tiền có chữ ký của ông Vũ Xuân H2 và con dấu của UBND xã N là đúng, còn việc vay mượn tiền cụ thể như thế nào giữa UBND xã, ông H2 và bà H như thế nào ông không nắm được vì khi đó ông mới chỉ làm văn phòng. Sau này khi làm lãnh đạo UBND xã N ông mới nắm được việc bà H nói rằng bà H cho UBND xã N mượn tiền. Trong suốt quá trình từ năm 1995 đến năm 2005, UBND xã N có trả cho bà H làm nhiều lần, có phiếu chi tiền, tổng số tiền trả là 45.028.000đồng, trong đó có cả trả gốc và trả lãi. Trong suốt quá trình từ năm 1995 đến nay qua nhiều đời Chủ tịch, nhưng trong biên bản bàn giao giữa các đời Chủ tịch còn lưu giữ tại UBND xã N ông không được bàn giao số nợ này, ông chỉ thấy có biên bản bàn giao giữa nhiệm kỳ 06 (ông Vũ Xuân H2 làm chủ tịch) và bà Lê Thị O nhận Chủ tịch UBND xã có ghi “nợ vay thỏa thuận gốc 20.000.000đồng”.
Nay căn cứ vào hồ sơ sổ sách còn lưu trữ tại UBND xã ông H1 xác định, khoản vay của bà H là của UBND xã N, không phải của cá nhân ai. Tuy nhiên, qua hồ sơ sổ sách thì UBND xã N có vay của bà H tổng số tiền gốc là 28.000.000đồng, trong khi đó tổng số tiền UBND xã N đã trả cho bà H tổng số tiền là: 45.028.000đồng, đã quá cả số tiền lãi. Nên nay UBND xã N xác nhận đã trả nợ hết bà H, việc bà H yêu cầu UBND xã N trả bà tổng số tiền gốc và lãi đến nay là: 30.444.889.982đồng, ông không đồng ý vì ông cho rằng những khoản trả bà H đều có phiếu chi và có phiếu ghi trả tiền gốc trong đó có cả số tiền 20.000.000đồng bà O trả, UBND xã đã trả vượt cả số tiền gốc ban đầu nên ông không đồng ý theo yêu cầu của bà H. Đối với khoản vay của Hợp tác xã, bà H đã rút yêu cầu tại phiên tòa, ông không có ý kiến gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Xuân H2 trình bày:
Ông giữ chức vụ Chủ tịch UBND xã N từ tháng 12/1991 đến tháng 5/2004. Trong thời gian làm Chủ tịch UBND xã, thời kỳ năm 1995, kinh tế của UBND xã gặp khó khăn nên khi đó bộ phận cán bộ quản lý mảng nào sẽ lo mảng đó. Lúc đó, ông Thế L kế toán xã nên chịu trách nhiệm mảng tài chính của UBND. Khi đó, UBND có họp háng tuần, hàng tháng để thống nhất những chủ trương, các biện pháp để giải quyết các vấn đề của địa phương, trong đó có mảng tài chính. Do sự việc đã xảy ra rất lâu nên ông không thể nhớ được chi tiết nhiều vấn đề. Tuy nhiên, ông xác định quá trình vay nợ bà Nguyễn Thị H như trong giấy vay tiền, giấy xác nhận là có. Khi đó, ông Thế là cán bộ tài chính đứng ra vay cho tập thể, dùng vào mục đích công của xã và đều ghi rõ trong các giấy vay, UBND xã khi đó không chỉ vay của bà H mà còn vay của một số các nhân khác để phục vụ công việc chung của UBND. Các giấy vay tiền đều do ông Thế L kế toán viết, còn ông có ký xác nhận. Việc vay mượn của bà H, trong báo cáo Hội đồng nhân dân xã đều nêu ra trong các kỳ họp của Hội đồng nhân dân. Từ thời gian đó, đến năm 2004, ông không nhớ UBND xã đã thanh toán khoản tiền nào cho bà H chưa, vì việc này do kế toán phụ trách. Thời điểm ông chuyển giao cho Chủ tịch mới là bà Lê Thị O, có biên bản bàn giao các công việc trong quyền hạn Chủ tịch quản lý, trong đó có bàn giao cả khoản nợ của bà H. Nay ông xác định khoản nợ vay của bà H là vay cho UBND xã N để thực hiện công việc chung của UBND xã, không phải là vay của cá nhân.
Người làm chứng bà Lê Thị O trình bày:
Bà giữ chức vụ Chủ tịch UBND xã N từ tháng 06/2024 đến tháng 10/2010 và là đại biểu Hội đồng nhân dân xã Nhân Đạo từ năm 1994- 1999. Bà được tiếp nhận làm Chủ tịch UBND xã N từ ông Vũ Xuân H2. Thời điểm tiếp nhận chức vụ bà có nhận bàn giao với Chủ tịch cũ bằng biên bản và có bàn giao cả khoản nợ của bà H. Thời điểm bà làm Chủ tịch, bà H có lên đòi tiền, bà H không nói rõ là đòi bao nhiêu tiền. Đến năm 2005, UBND xã cho đấu thầu được hồ ao Chằm được 28.000.000đồng nên có họp bàn và thống nhất thanh toán cho bà Hằng số tiền 20.000.000đồng. Trong quá trình bà làm đại biểu Hội đồng nhân dân, bà không nhớ rõ là có chủ trương của Hội đồng nhân dân về việc vay nợ không, nhưng trong báo cáo tài chính hàng năm thường sẽ vẫn nêu. Việc vay nợ ngoài khi đó UBND xã thường sẽ họp để bàn bạc với nhau đi đến thống nhất sau đó mới tiến hành, nên việc vay nợ của cá nhân theo bà U xã sẽ phải họp bàn. Bà xác định số nợ vay của bà H là UBND xã N nợ, bà khi đó thay mặt UBND có trả cho bà H được 20.000.000đồng. Nay bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Với nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2025/DS-ST ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc quyết định:
Căn cứ vào các Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147; Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 166; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
Chấp không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với UBND xã N về việc yêu cầu UBND xã N trả lại số tiền gốc đã vay cùng lãi suất với tổng số tiền: 28.751.013.889đồng.
Đình chỉ phần yêu cầu của bà H đối với Hợp tác xã N.
Ngoài ra bản án còn tuyên án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 03 tháng 3 năm 2025, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H có đơn kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
Tại phiên toà, nguyên đơn đề nghị Toà án giải quyết buộc UBND xã N, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc nay là xã H, tỉnh Phú Thọ và cá nhân liên quan là ông Vũ Xuân H2 (nguyên Chủ tịch xã) phải có trách nhiệm trả cho bà toàn bộ số tiền gốc và lãi như yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; các đương sự đã được thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 308; Điều 310 Bộ luật Tố tụng Dân sự huỷ Bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2025/DS-ST ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị H làm trong thời hạn theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được Hội đồng xét xử xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án:
Bà Nguyễn Thị H cho UBND xã N, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã H, tỉnh Phú Thọ) vay tổng số tiền là 28.000.000đồng theo 03 Giấy vay tiền lập ngày 01/01/1995, ngày 25/01/1995 và ngày 24/6/1995 giữa bà H với ông Vũ Xuân H2 là Chủ tịch UBND xã N thời kỳ đó. Theo đó tại 03 Giấy vay tiền, hai bên đều thỏa thuận số tiền nợ gốc, mức lãi suất 3%/tháng và thời hạn trả nợ. Riêng khoản vay số tiền 20.000.000đồng ngày 01/01/1995 có thỏa thuận lãi suất 3%/tháng, lãi 03 tháng cộng vào gốc 1 lần.
UBND xã N xác định đã thanh toán cho bà H tổng số tiền là: 45.028.000đồng (thể hiện tại các phiếu chi, giấy nhận tiền đến tháng 02/2005), trong đó có 28.000.000đồng tiền gốc và số còn lại là tiền lãi nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H.
Tuy nhiên, bà H chỉ thừa nhận trong tổng số 45.028.000đồng UBND xã N trả thì chỉ có 1.500.000đồng tiền gốc, còn lại là tiền lãi. Do đó, bà Nguyễn Thị H yêu cầu UBND xã N trả số tiền gốc còn lại là 26.500.000đồng, sau đó lãi cộng dồn vào gốc tính đến ngày xét xử sơ thẩm với tổng số tiền là 28.751.013.889đồng.
[3] Về tư cách tham gia tố tụng:
Tại 03 giấy vay tiền nguyên đơn khởi kiện thể hiện, bên cho vay là bà Nguyễn Thị H và bên vay là đại diện UBND xã N - ông Vũ Xuân H2, Chủ tịch xã (ông H2 đều ký tên và đóng dấu trong 03 giấy vay tiền này). Nội dung trong giấy vay tiền thể hiện hai bên thoả thuận về số tiền vay, mục đích vay, lãi suất và nhập lãi vào gốc. Tuy nhiên, Toà án cấp sơ thẩm xác định ông H2 tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng là không đúng. Trong vụ án này ông H2 phải tham gia với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Vì vậy, việc không đưa ông H2 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền của nguyên đơn.
Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn yêu cầu buộc UBND xã N, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc nay là xã H, tỉnh Phú Thọ và cá nhân liên quan là ông Vũ Xuân H2 (nguyên Chủ tịch xã) phải có trách nhiệm trả cho bà toàn bộ số tiền gốc và lãi như yêu cầu khởi kiện. Do vậy cần phải đưa ông H2 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mới giải quyết được triệt để vụ án, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn.
[4] Xét yêu cầu yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Năm 1995, do cần tiền để chi trả tiền xây dựng trường học, trả lương cho cán bộ hưu, chỉ hỗ trợ tết âm lịch...nên UBND xã N đã thống nhất chủ trương vay tiền của các cá nhân, trong đó có bà Nguyễn Thị H. Địa phương thống nhất giao cho ông Vũ Xuân H2 là Chủ tịch UBND xã đứng ra vay tiền, ông H2 đại diện UBND xã đã ký giấy vay tiền của bà H với tổng số tiền gốc là 28.000.000đồng và thoả thuận trả lãi. Trong báo cáo trình bày tại các kỳ họp của Hội đồng nhân dân xã khi đó cũng nêu nội dung này. Từ khi vay thì UBND xã N đã nhiều lần lấy tiền từ ngân sách của UBND để trả cho bà H. Trong biên bản bàn giao giữa nhiệm kỳ 1999-2004 (khi đó ông H2 là Chủ tịch) sang nhiệm kỳ 2004- 2009 (khi đó bà O là Chủ tịch) có bàn giao cả “nợ vay thỏa thuận gốc: 20.000.000đồng”. Do đó, Tòa án sơ thẩm xác định số tiền bà H cho vay tại 03 giấy vay tiền vào các ngày 01/01/1995, ngày 24/6/1995 và ngày 26/7/1995 là khoản vay của tập thể là có cơ sở.
Thời điểm năm 1995, tuy chưa có quy định rõ ràng về việc tập thể, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước có thể vay, sử dụng vốn vay nhưng theo tinh thần của các văn bản pháp luật có liên quan như Pháp lệnh kế toán và thống kê năm 1988, Nghị định, Quyết định của Chính phủ về việc quyết toán ngân sách hàng năm thì không cấm việc UBND xã vay tiền để sử dụng vào mục đích chung nhưng bên vay không được thỏa thuận dùng tiền ngân sách để trả lãi. Vì vậy, phần lãi suất đã thoả thuận thì người vay phải tự chịu trách nhiệm cá nhân về phần vượt quá thẩm quyền của mình. Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc UBND xã trả lãi là đúng. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm áp dụng Điều 427 Bộ luật Dân sự năm 2005 về thời hiệu khởi kiện để không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là không có cơ sở.
Ông H2 với tư cách là Chủ tịch U1 vay tiền đã thoả thuận với bà H về lãi suất thể hiện trong giấy vay tiền là vượt quá thẩm quyền quy định của Chủ tịch UBND. Toà án cấp sơ thẩm chưa điều tra, xác minh làm rõ trách nhiệm của cá nhân và không đưa ông H2 tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan như đã nhận định là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
[5] Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn yêu cầu ông Vũ Xuân H2 (nguyên Chủ tịch xã) cùng UBND xã N phải có trách nhiệm trả nợ cho bà. Thấy rằng, yêu cầu của nguyên đơn là chính đáng, nhưng cấp phúc thẩm không khắc phục được những vi phạm của cấp sơ thẩm nên cần phải huỷ bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho cấp sơ thẩm để giải quyết lại mới đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn.
[6] Về án phí: Bà H không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308; Điều 310 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Huỷ bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ để giải quyết lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thanh Danh |
Bản án số 106/2025/DS-PT ngày 20/08/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hợp đồng vay tiền
- Số bản án: 106/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tiền
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H - UBND xã N v/v tranh chấp hợp đồng vay tiền
