TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 106/2024/HS-ST Ngày: 16 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Quỳnh Châu.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mỹ Vinh;
Bà Hoàng Thị Tuyết Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Việt Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử số 2, Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xét xử công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 95/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên toà số 96/TB-TA ngày 08 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Lê Đình Hoàng Q (tên gọi khác: T), sinh ngày 02 tháng 10 năm 1996; tại Quảng Trị; Nơi cư trú: Khu phố E, thị trấn G, huyện G, tỉnh Quảng Trị; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Thợ máy điện lạnh; Trình độ học vấn: 12/12; con ông: Lê Văn T1, sinh năm 1965 và con bà Dương Thị H, sinh năm: 1964; hiện trú tại: Khu phố E, thị trấn G, huyện G, tỉnh Quảng Trị; Vợ: Ngô Thị X, sinh năm 1996; Con: Chưa có; Gia đình có bốn người con, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Tiền sự, Tiền án: Không.
Bị cáo Lê Đình Hoàng Q bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/3/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị cho đến nay. Có mặt.
2. Ngô Văn T2 (tên gọi khác: T2 xì ke), sinh ngày 16 tháng 5 năm 1991, tại Quảng Trị; Nơi cư trú: Khu phố H, thị trấn G, huyện G, tỉnh Quảng Trị; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; con ông: Ngô T3, sinh năm 1961; trú tại: Thôn S, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; con bà: Dương Thị L, sinh năm: 1960; trú tại: Khu phố H, thị trấn G, huyện G, tỉnh Quảng Trị; Gia đình có ba người con, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự, Tiền án: Không.
Nhân thân: Ngày 23/02/2015, bị Công an huyện G, tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích” với mức phạt 750.000 đồng.
Bị cáo Ngô Văn T2 bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/3/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị cho đến nay. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn T1, sinh năm: 1965; trú tại: Khu phố E, thị trấn G, huyện G, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 18/3/2024, Lê Đình Hoàng Q điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave RXS, biển kiểm soát 74B1-234.43 của ông Lê Văn T1 (bố Q) từ nhà mình đến nhà Ngô Văn T2 rủ T2 đi mua ma túy về sử dụng thì T2 đồng ý. Do T2 biết ở thành phố Đ có người bán ma túy nên Q chở T2 đi mua ma túy. Trên đường đi, Q đưa cho T2 400.000 đồng để mua ma túy. Q chở T2 đến kiệt A đường B thuộc khu phố B, phường A, thành phố Đ gặp 01 nam thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ). T2 hỏi mua 400.000 đồng ma túy, thì nam thanh niên đưa cho T2 gói nilon màu xanh, bên trong có 12 viên ma túy tổng hợp. Sau khi mua được ma túy, T2 cầm trên tay, Q chở T2 đến khu vực đèn tín hiệu giao thông tại ngã ba đường L - Â thuộc khu phố B, phường Đ, thành phố Đ thì bị lực lượng Công an thành phố Đ tuần tra, kiểm soát phát hiện, bắt quả tang thu giữ toàn bộ số ma túy Ngô Văn T2 đang cất giấu ở tay trái.
Vật chứng, tài sản thu giữ gồm:
- + 12 (Mười hai) viên nén hình trụ tròn, màu hồng, trên bề mặt có chữ WY, nghi là ma túy tổng hợp hồng phiến.
- + 01 (Một) mảnh ni lon màu xanh.
- + 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát 74B1-234.43, chủ sở hữu là ông Lê Văn T1.
Tại bản Kết luận giám định số 413/KL-KTHS ngày 26/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: 12 viên nén màu hồng, hình trụ tròn được niêm phong trong túi niêm phong có ký hiệu NS4 2201919 gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 1,1312 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT: 247 Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Tại bản Kết luận giám định số 435/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Trên bề mặt mành ni lon màu xanh được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu BG gửi đến giám định phát hiện có dấu vết đường vân nhưng đường vân bị mờ nhoè, không đủ cơ sở để giám định so sánh truy nguyên.
Cáo trạng số 97/CT-VKS-ĐH ngày 28/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị truy tố các bị cáo Lê Đình Hoàng Q và Ngô Văn T2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Lê Đình Hoàng Q (tên gọi khác: T) và Ngô Văn T2 (tên gọi khác: T2 xì ke) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Đình Hoàng Q từ 14 tháng tù đến 16 tháng tù; xử phạt Ngô Văn T2 từ 13 tháng tù đến 15 tháng tù.
Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy:
- - Số ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định.
- - 01 mảnh ni lon màu xanh được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu BG.
Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát 74B1-234.43 cho chủ sở hữu là ông Lê Văn T1.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Đình Hoàng Q và Ngô Văn T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố đối với các bị cáo. Lời khai của các bị cáo phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, xác định được:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 18/3/2024, Lê Đình Hoàng Q rủ Ngô Văn T2 đi mua ma túy về sử dụng thì T2 đồng ý. Q đưa cho T2 400.000 đồng để mua ma túy. Q chở T2 đến kiệt A đường B thuộc khu phố B, phường A, thành phố Đ gặp 01 nam thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ). T2 hỏi mua 400.000 đồng ma túy thì nam thanh niên đưa cho T2 gói nilon màu xanh, bên trong có 12 viên ma túy tổng hợp. Khi cả hai đi xe máy đến khu vực đèn tín hiệu giao thông tại ngã ba đường L - Â thuộc khu phố B, phường Đ, thành phố Đ thì bị lực lượng Công an thành phố Đ tuần tra, kiểm soát phát hiện, bắt quả tang thu giữ toàn bộ số ma túy Ngô Văn T2 đang cất giấu ở tay trái.
Theo kết luận giám định khối lượng ma túy là 1,1312 gam là ma túy loại Methamphetamine.
Như vậy, có đủ căn cứ để xác định hành vi của các bị cáo Lê Đình Hoàng Q và Ngô Văn T2 đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét về tính chất, hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước mà còn là nguyên nhân dẫn đến gây mất tình hình an ninh trật tự ở địa phương.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo” được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
[5] Xét vai trò của các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy: Lê Đình Hoàng Q là người rủ Ngô Văn T2 mua ma túy để sử dụng, số tiền 400.000 đồng mua ma túy là của Lê Đình Hoàng Q. Ngô Văn T2 là người trực tiếp giao dịch mua ma túy, có nhân thân bị xử phạt hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích” nên vai trò của bị cáo Lê Đình Hoàng Q cao hơn bị cáo Ngô Văn T2.
[6] Về một số vấn đề liên quan trong vụ án:
Đối với nam thanh niên bán ma túy cho Ngô Văn T2, Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp điều tra nhưng chưa xác định được nên không có căn cứ để xử lý.
[7] Về xử lý vật chứng:
- - Ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong một phong bì có ký hiệu QT-S 413 là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - 01 mảnh ni lon màu xanh được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu BG-SGĐ không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát 74B1-234.43 của ông Lê Văn T1. Ông Lê Văn T1 (bố Lê Đình Hoàng Q) không biết Q sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát 74B1-234.43 vào mục đích phạm tội nên cần trả lại xe mô tô trên cho ông Lê Văn T1.
[8] Tiếp tục tạm giam các bị cáo Lê Đình Hoàng Q và Ngô Văn T2 thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo cho việc thi hành án.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Lê Đình Hoàng Q (Tên gọi khác: T) và Ngô Văn T2 (Tên gọi khác: T2 xì ke) phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt Lê Đình Hoàng Q 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam, ngày 18 tháng 3 năm 2024.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt Ngô Văn T2 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam, ngày 18 tháng 3 năm 2024.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
- + Ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong một phong bì có ký hiệu QT-S 413.
- + 01 (Một) mảnh ni lon màu xanh được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu BG-SGĐ.
- + Trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda RSX, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 74B1-234.43 cho ông Lê Văn T1.
Các vật chứng trên có đặc điểm như tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc Lê Đình Hoàng Q và Ngô Văn T2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Quỳnh Châu |
Bản án số 106/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 106/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Đình Haongf Q, Ngô Văn T2
