|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 106/2024/HS-ST. Ngày: 27-9-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiêm Uyên
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Phạm Hồng Sơn
+ Ông Nguyễn Trọng Di
-Thư ký phiên tòa: Bà Mai Bích Hà Vy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Ông Trần Hải Điền – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 83/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 25/2024/QĐ- HPT, ngày 12 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngô Văn L, Giới tính: Nam; sinh ngày: 13-01-1985, tại tỉnh Bình Thuận. Nơi cư trú: khu phố M, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm biển; Trình độ học vấn: 0/12; Cha: Ngô Văn T, sinh năm 1955; Mẹ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1957 (đã chết); A, chị, em ruột: có 03 người. Lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1997; Vợ: Ngô Thị Đàm D, sinh năm 1982; Con: 01 người, sinh năm 2014.
Tiền án: 03 tiền án.
Tại bản án số 25/HSST ngày 22-5-2002 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận xử phạt Ngô Văn L 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 12-12-2004.
Tại bản án số 72/2006/HSST ngày 07-6-2006 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xử phạt Ngô Văn L 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 07 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, tổng hợp hình phạt cho 03 tội là 09 năm 03 tháng, chấp hành xong hình phạt tù ngày 31-10-2012;
Tại bản án số 105/2015/HSST ngày 30-9-2015 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận xử phạt Ngô Văn L 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 04-8-2022.
Tiền sự: Không
Bị cáo tại ngoại có mặt
* Bị hại: Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Khu phố H, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do trước đây Nguyễn Ngọc T2 có mượn của Ngô Văn L số tiền 5.000.000 đồng và T2 hẹn đến ngày 04-02-2024 sẽ trả cho L. Vì vậy, đến khoảng 19 giờ 30 phút ngày 04-02-2024 như đã hẹn trước L điều khiển xe mô tô mang theo 01 cây kiếm đi đến nhà của T2 tại khu phố H, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận để gặp T2 yêu cầu T2 trả số tiền 5.000.000 đồng mà T2 đã mượn của L. L nhìn thấy T2 đang nằm trên võng trong nhà nên dừng xe mô tô ở ngoài cổng và để cây kiếm mang theo trên xe mô tô rồi đi đến vị trí T2 đang nằm yêu cầu T2 trả số tiền mà T2 mượn của L thì T2 đứng dậy nói chuyện với L và tiếp tục hứa hẹn về việc trả tiền cho L. Do bực tức việc T2 không trả tiền nợ như đã hẹn nên L liền đi ra ngoài xe mô tô của L lấy cây kiếm đi vào chỗ T2 đang đứng trong nhà. L cầm kiếm bằng tay phải đứng đối diện với T2 đưa lên cao chém về hướng T2 theo hướng từ trên xuống, T2 liền dùng tay phải đưa lên đỡ thì bị L chém gây thương tích ở lòng bàn tay phải. L tiếp tục dùng kiếm đâm về hướng T2 nhưng T2 né tránh được. Sau đó, L được mọi người can ngăn nên bỏ đi về còn T2 được mọi người đưa đi cấp cứu và điều trị thương tích.
Ngày 15-02-2024 L tự nguyện giao nộp cho Công an thị trấn P Cửa 01 cây kiếm dài 84cm, phần cán bằng gỗ màu đen dài 25cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 59cm.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 289/KLTTCT - TTGĐΥΚΡΥBT ngày 20-03-2024 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh B kết luận tỷ lệ thương tích của Nguyễn Ngọc T2: Vết thương phần mềm mặt lòng bàn tay phải đã được điều trị hiện ngón 5 bàn tay phải mất cảm giác nông và hạn chế vận động gập duỗi, để lại sẹo lành kích thước: (12,5 x 0,2) cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%+02%; Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28-8-2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Ngọc T2 tại thời điểm giám định là 4%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư. Vết thương do vật sắc gây ra. Vết thương có chiều hướng lực tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương.
Về tang vật chứng: Đã chuyển vào kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong 01 cây kiếm dài 84cm, phần cán bằng gỗ màu đen dài 25cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 59cm do Ngô Văn L giao nộp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị can Ngô Văn L đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại Nguyễn Ngọc T2 số tiền 2.000.000 đồng. Người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét, giải quyết.
Tại Bản Cáo trạng số 87/CT-VKSTP-HS, ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố Ngô Văn L về tội “Cố ý gây thương tích”, quy định tại điểm d khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có 02 tình tiết tăng nặng định khung hình phạt quy định tại điểm a, điểm i khoản 1 điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong bổ sung quyết định truy tố áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo gia đình có công với Cách mạng và đề nghị: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có 02 tình tiết tăng nặng định khung hình phạt quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Ngô Văn L từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Về tang vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy 01 cây kiếm dài 84cm, phần cán bằng gỗ màu đen dài 25cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 59cm là công cụ dùng vào việc phạm tội.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét, giải quyết.
- Bị cáo Ngô Văn L thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong và xác định việc truy tố bị cáo là đúng, không oan, bị cáo thừa nhận lỗi và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Ngô Văn L không có ý kiến, cũng như không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện, đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa vắng mặt bị hại Nguyễn Ngọc T2. Xét thấy, bị hại đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, việc vắng mặt bị hại không cản trở đến việc xét xử bị cáo. Ngoài ra, trong quá trình điều tra thì bị hại đã có lời khai đầy đủ. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bị hại.
[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả thẩm tra tại phiên tòa, đã làm rõ: Xuất phát từ việc T2 không trả nợ cho L như đã hứa nên khoảng 19 giờ 30 phút ngày 04-02-2024 tại khu phố H, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận Lợi dùng 01 cây kiếm dài 84cm, phần cán bằng gỗ màu đen dài 25cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 59cm gây thương tích cho T2 tại vết thương phần mềm mặt lòng bàn tay phải đã được điều trị hiện ngón 5 bàn tay phải mất cảm giác nông và hạn chế vận động gập duỗi, để lại sẹo lành kích thước: (12,5 x 0,2) cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%+02% (Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 289/KLTTCT - TTGĐΥΚΡYBT ngày 20-03-2024 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh B).
Hành vi gây thương tích của bị cáo với tỷ lệ 4% lẽ ra chỉ phạm vào khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tuy nhiên, bị cáo Ngô Văn L đã có 03 tiền án, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 105/2015/HSST ngày 30-9-2015 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận đã xử phạt bị cáo Ngô Văn L 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, p khoản 2, Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã xác định bị cáo Ngô Văn L “tái phạm nguy hiểm”, bị cáo L chưa được xóa án tích lần này tiếp tục phạm tội do lỗi cố ý thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”.
Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Ngô Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) có 02 tình tiết tăng nặng định khung hình phạt “Dùng hung khí nguy hiểm”, “Có tính chất côn đồ” quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại; Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận lỗi thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bị cáo, gia đình của bị cáo có công với Cách mạng; Bị hại cũng không yêu cầu bồi thường thêm và đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1; Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo có nhân thân không tốt đã nhiều lần bị kết án chưa được xóa án tích.
[5]. Về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Bị cáo chỉ gây thương tích cho bị hại là 4% nhưng bị cáo đã có 03 tiền án chưa được xóa án tích, có 02 tình tiết tăng nặng định khung hình phạt quy định tại điểm a, i khoản 1 điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, thấy có đủ căn cứ và điều kiện áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) để quyết định cho bị cáo một mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà bị cáo phạm phải. Bị cáo đã có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận biết sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ, nhưng do xem thường pháp luật và xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ nhặt mà bị cáo đã thực hiện hành vi trái pháp luật, xâm phạm nghiêm trọng đến sức khỏe của bị hại. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm, làm gia tăng tình trạng bạo lực đối với một bộ phận thanh thiếu niên, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.
Với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy rằng cần phải xử lý bị cáo một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để bị cáo tu dưỡng, rèn luyện bản thân thành công dân tốt, đồng thời để răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
[6] Về tang, vật chứng của vụ án: 01 cây kiếm dài 84cm, phần cán bằng gỗ màu đen dài 25cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 59cm là công cụ dùng vào việc phạm tội nên áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét, giải quyết.
[8] Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 268, Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Tuyên bố: Bị cáo Ngô Văn L phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.
Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 46; Điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: 01 cây kiếm dài 84cm, phần cán bằng gỗ màu đen dài 25cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 59cm (Tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện T với Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong ngày 26-8-2024).
Áp dụng: Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.
Buộc bị cáo Ngô Văn L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (27-9-2024). Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án.
|
Nơi nhận: -VKSND tỉnh Bình Thuận; -VKSND huyện Tuy Phong; -CA huyện Tuy Phong; -THADS huyện Tuy Phong; -Sở tư pháp tỉnh Bình Thuận; -Bị cáo; Bị hại, -Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kiêm Uyên |
Bản án số 106/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 106/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào: Điều 268, Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Tuyên bố: Bị cáo Ngô Văn L phạm tội: “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án. Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 46; Điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy: 01 cây kiếm dài 84cm, phần cán bằng gỗ màu đen dài 25cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 59cm (Tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện T với Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong ngày 26-8-2024). Áp dụng: Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án. Buộc bị cáo Ngô Văn L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
