|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE Bản án số: 106/2024/HS-ST Ngày: 12-12-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hoàng Út
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Tuấn
Bà Dương Thị Thanh Thúy
-Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Vương - Thư ký Tòa án nhân dân
thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham
gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 89/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 91/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
LÂM DUY K, sinh năm: 1986 tại tỉnh Bến Tre; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A, Khu phố C, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: ấp C, xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lâm H (đã chết) và bà Văn Thị T, sinh năm: 1960; Vợ, con: chưa có;
Tiền án:
- + Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2006/HSST ngày 23/02/2006 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố B), tỉnh Bến Tre đã xử phạt 07 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999;
- + Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 88/2006/HSST ngày 02/6/2006 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố B), tỉnh Bến Tre đã xử phạt 12 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. Tổng hợp với hình phạt 07 năm tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2006/HSST ngày 23/02/2006 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố B), tỉnh Bến Tre, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 08 năm tù;
- + Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2006/HSST ngày 13/7/2006 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố B), tỉnh Bến Tre đã xử phạt 03 năm tù về tội "Cướp giật tài sản" theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999. Tổng hợp với hình phạt 07 năm tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2006/HSST ngày 23/02/2006 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố B), tỉnh Bến Tre và hình phạt 12 tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 88/2006/HSST ngày 02/6/2006 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố B), tỉnh Bến Tre, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 03 bản án là 11 năm tù (chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/6/2016);
- + Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2019/HSST ngày 17/4/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã xử phạt 01 năm 6 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/4/2020);
- + Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2021/HS-ST ngày 20/9/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã xử phạt 03 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/12/2023);
Tiền sự: không;
Nhân thân:
- + Ngày 17/10/2005, bị Công an phường P, thị xã B (nay là thành phố B) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 300.000 đồng về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy".
- + Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính Số 07/QĐ-XPVPHC ngày 27/12/2016 của Công an phường P, thành phố B xử phạt Lâm Duy K số tiền 750.000 đồng về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy".
- + Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính Số 27/QĐ-XPVPHC ngày 30/5/2018 của Công an phường P, thành phố B xử phạt Lâm Duy K số tiền 1.000.000 đồng về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy".
- + Tại Quyết định Số 179/QĐ-UBND ngày 08/10/2018 của Ủy ban nhân dân phường P áp dụng biện pháp Giáo dục tại phường đối với Lâm Duy K trong thời hạn 03 tháng về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy" (chấp hành xong ngày 05/01/2019);
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/9/2024. (Có mặt)
- Bị hại: Trung tâm viễn thông thành phố B, tỉnh Bến Tre;
Trụ sở: Số 9K, đường Nguyễn Thị Định, Khu phố 3, phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu T1 – Chức vụ: Giám đốc;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Ngọc T2, sinh năm: 1972;
Nơi cư trú: Số D, đường N, Khu phố D, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre (theo văn bản ủy quyền số 106 ngày 03/9/2024). (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Văn Thị T, sinh năm: 1960;
Nơi cư trú: Số A, Khu phố C, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)
- Người làm chứng:
- Ông Văn Hồng S, sinh năm: 1980;
- Bà Đào Thị Ánh N, sinh năm: 1982;
Nơi cư trú: Số E, ấp C, xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp C, xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lâm Duy K đã 04 lần bị kết án về “Tội trộm cắp tài sản” và “Tội cướp giật tài sản”, chưa được xóa án tích. Trong khoảng thời gian từ ngày 24/8/2024 đến ngày 30/8/2024, trên địa bàn thành phố B K đã 05 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của Trung tâm viễn thông thành phố B, tỉnh Bến Tre với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 1.220.734 đồng. Cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất:
Vào khoảng 01 giờ 05 phút ngày 24/8/2024, Lâm Duy K điều khiển xe mô tô biển số 71K7 – 4278 mượn của bạn tên Văn Hồng S đi từ xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre về thành phố B. Khi đến khu vực thuộc Khu phố B, Phường E, thành phố B, K phát hiện trụ điện đầu hẻm S, đường T, Phường E, thành phố B có dây cáp điện thoại nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. K điều khiển xe mô tô 71K7 – 4278 về nhà ở xã S, thành phố B lấy 01 lưỡi liềm rồi quay lại để cắt trộm dây cáp điện thoại. K dùng lưỡi liềm cắt một đoạn dây cáp điện thoại dài 02 mét của Trung tâm Viễn thông thành phố B đem về nhà ở xã S, thành phố B cất giấu. K đốt bỏ vỏ nhựa bên ngoài lấy dây đồng đem bán cho Vựa ve chai ở xã S, thành phố B của bà Đào Thị Ánh N với giá 150.000 đồng tiêu xài cá nhân hết. Cơ quan điều tra không thu hồi được tài sản.
Hiện trường xảy ra vụ án được xác định là trụ điện số E, đường T, Phường E, thành phố B, tỉnh Bến Tre, trụ điện cách tường rào của Trụ sở Sở Y tế tỉnh B là 0,4 mét, cách cổng chào hẻm S, Khu phố B, Phường E, thành phố B, tỉnh Bến Tre 06 mét.
Tại Kết luận định giá tài sản Số 704/KL-HĐĐG ngày 02/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự thành phố B kết luận: 02 mét dây cáp điện thoại, cáp loại treo 100 x 2 x 0,5, đã qua sử dụng, trị giá tài sản ngày 24/8/2024 là 142.776 đồng.
Vụ thứ hai:
Vào khoảng 01 giờ 05 phút ngày 26/8/2024, Lâm Duy K điều khiển xe mô tô biển số 71K7 – 4278 từ nhà K ở xã S lưu thông trên đường N đến phường A, thành phố B. Khi đến khu vực thuộc Khu phố C, phường A, thành phố B, K phát hiện trụ điện không số nằm ở đầu hẻm S, Khu phố C, phường A có dây cáp điện thoại nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. K điều khiển xe mô tô 71K7 – 4278 về nhà ở xã S, thành phố B lấy 01 lưỡi liềm và quay lại dùng lưỡi liềm cắt một đoạn dây cáp điện thoại dài 3,9 mét của Trung tâm Viễn thông thành phố B cho vào 01 cái bao loại dùng đựng gạo, màu trắng có chữ “thơm lài” Kha nhặt được ở khu vực gần trụ điện, lên xe tẩu thoát.
Hiện trường xảy ra vụ án được xác định là trụ điện không số ở góc đường N giao với hẻm S thuộc Khu phố C, phường A, thành phố B. Trụ điện cách nhà số A, Khu phố C, phường A, thành phố B 1,1 mét, cách lề đường Nguyễn H1 1,2 mét.
Tại Kết luận định giá tài sản Số 708/KL-HĐĐG ngày 02/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự thành phố B kết luận: 3,9 mét dây cáp điện thoại, cáp loại treo 200 x 2 x 0,5, đã qua sử dụng. Trị giá tài sản ngày 26/8/2024 là 556.826 đồng.
Vụ thứ ba:
Sau khi cắt trộm dây cáp điện thoại tại đầu hẻm S, đường N, Khu phố C, phường A, thành phố B, Lâm Duy K điều khiển xe mô tô Biển số 71K7 - 4278 về nhà K ở xã S, thành phố B, khi đi ngang trụ điện số 4a phía trước nhà Số B, Khu phố B, Phường D, thành phố B, K tiếp tục dùng lưỡi liềm cắt trộm 01 đoạn dây cáp điện thoại dài 2,6 mét của Trung tâm Viễn thông thành phố B. Tài sản trộm được ở trụ điện đầu hẻm S, Khu phố C, phường A và trụ điện Số 4a phía trước nhà Số B, K mang về nhà, Kha đốt bỏ vỏ nhựa bên ngoài, lấy dây đồng sau đó bán cho V ve chai ở xã S, thành phố B của bà Đào Thị Ánh N với giá 200.000 đồng tiêu xài cá nhân hết. Cơ quan điều tra không thu hồi được tài sản.
Hiện trường xảy ra vụ án được xác định là trụ điện số 4a ở hẻm H, Phường D, thành phố B. Trụ điện số 4a cách tường rào nhà Số B, Khu phố B, Phường D là 1,9 mét và cách cửa nhà Số B, Khu phố B, Phường D là 11 mét.
Tại Kết luận định giá tài sản Số 706/KL-HĐĐG ngày 02/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự thành phố B kết luận: 2,6m dây cáp điện thoại, cáp loại treo 50 x 2 x 0,5, đã qua sử dụng. Trị giá tài sản ngày 26/8/2024 là 92.804 đồng.
Vụ thứ tư:
Vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 28/8/2024, Lâm Duy K điều khiển xe mô tô bển số 71K7 - 4278 đi từ nhà K ở xã S đến Phường G, thành phố B. Khi đến khu vực thuộc Khu phố B, Phường G, thành phố B, K phát hiện trụ điện Số 154 phía trước hẻm M Bà có dây cáp điện thoại nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. K điều khiển xe mô tô biển số 71K7 - 4278 về nhà ở xã S, thành phố B lấy 01 lưỡi liềm quay lại để cắt trộm dây cáp điện thoại. K dùng lưỡi liềm cắt một đoạn dây cáp điện thoại dài 02 mét của Trung tâm Viễn thông thành phố B đem về nhà ở xã S, thành phố B cất giấu. K đốt bỏ vỏ nhựa bên ngoài, lấy dây đồng sau đó bán cho V ve chai ở xã S, thành phố B của bà Đào Thị Ánh N với giá 150.000 đồng tiêu xài cá nhân hết. Cơ quan điều tra không thu hồi được tài sản.
Hiện trường xảy ra vụ trộm cắp tài sản được xác định là trụ điện số A, đường H, Phường G, thành phố B. Trụ điện cách cổng chào hẻm Miếu B mét, cách lề đường H là 5,3 mét.
Tại Kết luận định giá tài sản Số 710/KL-HĐĐG ngày 02/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự thành phố B kết luận: 02 mét dây cáp điện thoại, cáp loại treo 100 x 2 x 0,5, đã qua sử dụng. Trị giá tài sản ngày 28/8/2024 là 142.776 đồng.
Vụ thứ năm:
Vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 30/8/2024, Lâm Duy K điều khiển xe mô tô biển số 71K7 - 4278 từ nhà ở xã S đến phường A, thành phố B. Khi đến khu vực thuộc địa phận Khu phố G, phường A, thành phố B K phát hiện trụ điện phía trước nhà số G, Đường C, Khu phố G, phường A, thành phố B có dây cáp điện thoại nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. K điều khiển xe mô tô biển số 71K7 - 4278 về nhà ở xã S, thành phố B lấy 01 lưỡi liềm quay lại để cắt trộm dây cáp điện thoại. K dùng lưỡi liềm cắt một đoạn dây cáp điện thoại dài 02 mét của Trung tâm Viễn thông thành phố B và điều khiển xe mô tô về nhà ở xã S, thành phố B cất giấu, sau đó bị Cơ quan điều tra thu giữ.
Hiện trường xảy ra vụ án được xác định là trụ điện phía trước nhà số G, Khu phố G, phường A, thành phố B. Trụ điện cách tường rào nhà số G 0,6 mét, cách trụ điện Số 1d 3,6 mét và cách lề Đường 30/4 là 02 mét.
Tại Kết luận định giá tài sản Số 712/KL-HĐĐG ngày 02/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự thành phố B kết luận: 02 mét dây cáp điện thoại, cáp loại treo 200 x 2 x 0,5, đã qua sử dụng. Trị giá tài sản ngày 30/8/2024 là 285.552 đồng.
Vật chứng thu giữ của Lâm Duy K:
- - 01 (Một) cây kềm cắt bằng kim loại, màu trắng-đỏ, có chữ "MCC Japan", kích thước 8,5 x 07cm, đã qua sử dụng;
- - 01 (Một) bao loại dùng đựng gạo màu trắng, có chữ "thơm lài", kích thước 58x54cm;
- - 01 (Một) xe mô-tô nhãn hiệu HAVICO, biển số 71K7-4278, số máy: 52FMH-34F412589, số khung: DCH033UM-012589, đã qua sử dụng.
- - 01 (Một) lưỡi liềm bằng kim loại, cán nhựa màu xanh dài 12 cm, phần lưỡi dài 26 cm để trong 01 túi vải màu đen.
- - 01 (Một) cuộn lõi dây cáp điện thoại chiều dài 43 cm để trong 01 túi nhựa màu đỏ.
- - 01 (Một) sợi dây cáp điện thoại, màu đen, dài 02 mét, loại cáp 200x2x0,5.
- - 04 (Bốn) mét vỏ dây cáp điện thoại loại 100 đôi (100x2x0,5).
- - 3,9 (Ba phẩy chín) mét vỏ dây cáp điện thoại loại 200 đôi (200x2x0,5).
- - 2,6 (Hai phẩy sáu) mét vỏ dây cáp điện thoại loại 50 đôi (50x2x0,5).
Tại bản cáo trạng số 91/CT-VKSTPBT ngày 12 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã truy tố bị cáo Lâm Duy K về “Tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị:
- - Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; các điểm b, h, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Lâm Duy K từ 01 năm đến 01 năm 6 tháng tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản”.
- - Về hình phạt bổ sụng: đề nghị không áp dụng đối với bị cáo.
- - Về phần trách nhiệm dân sự, biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- + Ghi nhận bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại giá trị tài sản bị chiếm đoạt với số tiền 1.220.734 đồng và bị hại không yêu cầu gì thêm.
- + Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã giao trả lại cho ông Văn Hồng S 01 xe mô tô biển số 71K7-4278.
- + Trả lại cho bà Văn Thị T 01 (Một) lưỡi liềm bằng kim loại, cán nhựa màu xanh dài 12 cm, phần lưỡi dài 26 cm để trong 01 túi vải màu đen.
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) cây kềm cắt bằng kim loại, màu trắng-đỏ, có chữ "MCC Japan", kích thước 8,5 x 07cm, đã qua sử dụng; 01 (Một) bao loại dùng đựng gạo màu trắng, có chữ "thơm lài", kích thước 58x54 cm; 01 (Một) cuộn lõi dây cáp điện thoại chiều dài 43 cm để trong 01 túi nhựa màu đỏ; 01 (Một) sợi dây cáp điện thoại, màu đen, dài 02 mét, loại cáp 200x2x0,5; 04 (Bốn) mét vỏ dây cáp điện thoại loại 100 đôi (100x2x0,5); 3,9 (Ba phẩy chín) mét vỏ dây cáp điện thoại loại 200 đôi (200x2x0,5) và 2,6 (Hai phẩy sáu) mét vỏ dây cáp điện thoại loại 50 đôi (50x2x0,5).
Bị cáo Lâm Duy K khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung cáo trạng truy tố, đồng thời yêu cầu xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên sơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt. Tuy nhiên, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã có lời khai, yêu cầu rõ ràng trong quá trình điều tra nên sự vắng mặt không trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng theo quy định tại khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Lời khai nhận tội của bị cáo Lâm Duy K tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, phù hợp với biên bản, bản ảnh thực nghiệm điều tra, tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, có đủ cơ sở xác định: Mặc dù đã 04 lần bị kết án về “Tội trộm cắp tài sản” và “Tội cướp giật tài sản” chưa được xóa án tích nhưng từ ngày 24/8/2024 đến ngày 30/8/2024, tại Phường E, Phường G và phường A, thành phố B, tỉnh Bến Tre, Lâm Duy K đã 05 lần có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của Trung tâm viễn thông thành phố B, tỉnh Bến Tre. Cụ thể:
Vụ thứ nhất:
Vào khoảng 01 giờ 05 phút ngày 24/8/2024, tại trụ điện ở đầu hẻm S, Khu phố B, Phường E, thành phố B, Lâm Duy K có hành vi lén lút chiếm đoạt 02 mét dây cáp điện thoại, cáp loại treo 100 x 2 x 0,5, trị giá 142.776 đồng;
Vụ thứ hai:
Vào khoảng 01 giờ 05 phút ngày 26/8/2024, tại trụ điện đầu hẻm S, đường N, Khu phố C, phường A, thành phố B, Lâm Duy K có hành vi lén lút chiếm đoạt 3,9 mét dây cáp điện thoại, cáp loại treo 200 x 2 x 0,5, trị giá 556.826 đồng.
Vụ thứ ba:
Sau khi trộm 3,9 mét dây cáp điện thoại tại phường A vào ngày 26/8/2024, trên đường về nhà mình ở xã S, thành phố B, Lâm Duy K còn có hành vi có hành vi lén lút chiếm đoạt 2,6 mét dây cáp điện thoại, cáp loại treo 50 x 2 x 0,5, trị giá 92.804 đồng tại trụ điện số 4a phía trước nhà số B, Khu phố B, Phường D, thành phố B;
Vụ thứ tư:
Vào khoảng 01 giờ 05 phút ngày 28/8/2024, tại trụ điện số 154 phía trước hẻm M Bà thuộc Khu phố B, Phường G, thành phố B, Lâm Duy K có hành vi lén lút chiếm đoạt 02 mét dây cáp điện thoại, cáp loại treo 100 x 2 x 0,5, trị giá 142.776 đồng;
Vụ thứ năm:
Vào khoảng 01 giờ 05 phút ngày 30/8/2024, tại trụ điện phía trước nhà số G, Đường C, Khu phố G, phường A, thành phố B, Lâm Duy K có hành vi lén lút chiếm đoạt 02 mét dây cáp điện thoại, cáp loại treo 200 x 2 x 0,5, trị giá 285.552 đồng.
Tổng giá trị tài sản K chiếm đoạt của Trung tâm Viễn thông thành phố B là 1.220.734 đồng.
[4] Bị cáo Lâm Duy K là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại với lỗi cố ý trực tiếp vì động cơ tư lợi, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật Hình sự bảo vệ. Mặc dù tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại chưa đến hai triệu đồng, tuy nhiên bị cáo đã 04 lần bị Tòa án kết án về “Tội trộm cắp tài sản” và “Tội cướp giật tài sản”, chưa được xóa án tích. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lâm Duy K đã phạm vào “Tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được rằng tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân, tổ chức được Nhà nước bảo hộ, mọi hành vi xâm phạm một cách trái pháp luật đều phải bị xử lý. Nhưng xuất phát từ bản tính tham lam, lười biếng lao động, muốn có tiền tiêu xài mà không phải bỏ công sức nên bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại, gây khó khăn trong hoạt động kinh doanh, gây mất trật tự, an toàn xã hội và bất bình trong nhân dân nên cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
[6] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng: Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị Tòa án kết án về tội mua bán trái phép chất ma túy, trộm cắp tài sản, cướp giật tài sản chưa được xóa án tích và bị các cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính, áp dụng biện pháp xử lý hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (đã được xóa). Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo phạm vào tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng như đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ nhân thân, tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi bị cáo gây ra, xét thấy việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là điều cần thiết nhằm cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung.
[7] Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[9] Về phần trách nhiệm dân sự:
Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại Trung tâm viễn thông thành phố B, tỉnh Bến Tre giá trị tài sản bị chiếm đoạt với số tiền là 1.220.734 đồng và bị hại không yêu cầu gì khác nên ghi nhận.
[10] Về phần xử lý vật chứng:
Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng, bao gồm: 01 (Một) xe mô tô biển số 71K7 - 4278; 01 (Một) cây kềm cắt bằng kim loại, màu trắng - đỏ, có chữ "MCC Japan", kích thước 8,5 x 07 cm, đã qua sử dụng; 01 (Một) bao loại dùng đựng gạo màu trắng, có chữ "thơm lài", kích thước 58 x 54 cm; 01 (Một) lưỡi liềm bằng kim loại, cán nhựa màu xanh dài 12 cm, phần lưỡi dài 26 cm để trong 01 túi vải màu đen; 01 (Một) cuộn lõi dây cáp điện thoại chiều dài 43 cm để trong 01 túi nhựa màu đỏ; 01 (Một) sợi dây cáp điện thoại, màu đen, dài 02 mét, loại cáp 200 x 2 x 0,5; 04 (Bốn) mét vỏ dây cáp điện thoại loại 100 đôi (100 x 2 x 0,5); 3,9 (Ba phẩy chín) mét vỏ dây cáp điện thoại loại 200 đôi (200 x 2 x 0,5) và 2,6 (Hai phẩy sáu) mét vỏ dây cáp điện thoại loại 50 đôi (50 x 2 x 0,5).
Xét thấy, xe mô tô biển số 71K7 - 4278 là tài sản của ông Văn Hồng S, ông S không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho ông S là phù hợp nên ghi nhận. Đối với 01 (Một) lưỡi liềm bằng kim loại, cán nhựa màu xanh dài 12 cm, phần lưỡi dài 26 cm để trong 01 túi vải màu đen là tài sản của bà Văn Thị T, bà T không biết bị cáo sử dụng lưỡi liềm thực hiện hành vi phạm tội và có yêu cầu nhận lại tài sản nên trả lại cho bà T. Đối với 01 (Một) cây kềm cắt bằng kim loại, màu trắng - đỏ, có chữ "MCC Japan", kích thước 8,5 x 07 cm, đã qua sử dụng; 01 (Một) bao loại dùng đựng gạo màu trắng, có chữ "thơm lài", kích thước 58 x 54 cm; 01 (Một) cuộn lõi dây cáp điện thoại chiều dài 43 cm để trong 01 túi nhựa màu đỏ; 01 (Một) sợi dây cáp điện thoại, màu đen, dài 02 mét, loại cáp 200 x 2 x 0,5; 04 (Bốn) mét vỏ dây cáp điện thoại loại 100 đôi (100 x 2 x 0,5); 3,9 (Ba phẩy chín) mét vỏ dây cáp điện thoại loại 200 đôi (200 x 2 x 0,5) và 2,6 (Hai phẩy sáu) mét vỏ dây cáp điện thoại loại 50 đôi (50 x 2 x 0,5) là công cụ, phương tiện, tài sản do bị cáo phạm tội mà có và hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[11] Đối với ông Văn Hồng S khi cho bị cáo K mượn xe mô tô biển số 71K7 - 4278 không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, bà Đào Thị Ánh N khi mua dây đồng do bị cáo K bán không biết tài sản do bị cáo phạm tội mà có và bà Văn Thị T không biết việc bị cáo K cất giấu tài sản do phạm tội mà có tại nhà của bà nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông S, bà N và bà T là phù hợp.
[12] Về án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo Lâm Duy K phải nộp theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lâm Duy K phạm “Tội trộm cắp tài sản”.
1. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo: Lâm Duy K 01 (Một) năm 3 (Ba) tháng tù;
Thời hạn tù tính từ ngày 02/9/2024.
2. Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Trả lại cho bà Văn Thị T: 01 (Một) lưỡi liềm bằng kim loại, cán nhựa màu xanh dài 12 cm, phần lưỡi dài 26 cm để trong 01 túi vải màu đen.
- - Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 (Một) cây kềm cắt bằng kim loại, màu trắng - đỏ, có chữ "MCC Japan", kích thước 8,5 x 07 cm, đã qua sử dụng;
- + 01 (Một) bao loại dùng đựng gạo màu trắng, có chữ "thơm lài", kích thước 58 x 54 cm;
- + 01 (Một) cuộn lõi dây cáp điện thoại chiều dài 43 cm để trong 01 túi nhựa màu đỏ;
- + 01 (Một) sợi dây cáp điện thoại, màu đen, dài 02 mét, loại cáp 200 x 2 x 0,5;
- + 04 (Bốn) mét vỏ dây cáp điện thoại loại 100 đôi (100 x 2 x 0,5);
- + 3,9 (Ba phẩy chín) mét vỏ dây cáp điện thoại loại 200 đôi (200 x 2 x 0,5);
- + 2,6 (Hai phẩy sáu) mét vỏ dây cáp điện thoại loại 50 đôi (50 x 2 x 0,5).
- (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/12/2024, hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre quản lý)
3. Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Lâm Duy K phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm. Đối với bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lê Hoàng Út |
Bản án số 106/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 106/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về Tội trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 01 năm 3 tháng tù
