Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2024/HS-ST.

Ngày: 14/6/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đào Anh Đức;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Quốc Nông;

Ông Nguyễn Trọng Thúy.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Trịnh Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Phạm Mai Phương Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 86/2024/HSST ngày 23 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 107/2024/QĐXXST- HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Bá T; Giới tính: Nam; Sinh ngày 10/3/1997, tại huyện L, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở: Khu phố C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Bá T1, sinh năm 1963; Con bà: Lương Thị O, sinh năm: 1970; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Lê Thị Đ, sinh năm: 2004; Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2018 (con riêng); con nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 29/12/2021, bị UBND xã T, huyện L, tỉnh Thanh Hóa ra quyết định xử phạt VPHC bằng biện pháp: Áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Nguyễn Bá T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn áp dụng 03 tháng. Ngày 30/3/2022, chấp hành xong quyết định xử phạt VPHC nêu trên. Bị tạm giữ, tạm giam từ 07/4/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt tại phiên tòa.

2. Lê Văn V; Giới tính: Nam; Sinh ngày 02/02/1995, tại huyện L, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú và nơi ở: SN G, đường P, khu phố O, thị trấn L, huyện L, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lê Văn V1, sinh năm: 1972; Con bà: Phạm Thị H, sinh năm 1974; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Hà Thị L, sinh năm: 1997 (Đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2016, hiện ở với mẹ tại bản Tong, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Tiền án: Ngày 24/11/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 30 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Bản án số 26/2020 ngày 24/11/2020), chấp hành án tại Trại giam T3, Bộ C2. Ngày 10/5/2022, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù; Tiền sự: Không. Bị tạm giữ, tạm giam từ 07/4/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lê Thị Đ, sinh năm 2004;

Hộ khẩu thường trú: Khu phố C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt tại phiên tòa (Do đang thực hiện Lệnh tạm giam số 34/LTG-ĐCSHS-KT-MT ngày 22/02/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện L).

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Bá T: Luật sư Dương Xuân T2 - Văn phòng L3, Đoàn luật sư tỉnh T.

Địa chỉ: Số C L, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn V: Luật sư Bùi Hữu N - Văn phòng luật sư Bùi Hữu N1, Đoàn luật sư tỉnh T.

Địa chỉ: S đường N, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 55 phút, ngày 07/4/2023, Tổ công tác Công an huyện L, tỉnh Thanh Hóa, làm nhiệm vụ tại Quốc lộ A, đoạn đi qua thôn C, xã Đ, huyện L, tỉnh Thanh Hóa, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Bá T và Lê Văn V đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng và có ai hỏi mua thì bán lại kiếm lời. Tổ công tác Công an huyện L đã đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ, niêm phong toàn bộ tang vật theo quy định. Vật chứng, đồ vật tài liệu thu giữ khi bắt quả tang gồm:

  • - 05 (Năm) túi nilon (gồm 04 túi màu xanh và 01 túi màu hồng), bên trong mỗi túi đều đựng các viên nén hình trụ tròn màu hồng và màu xanh.
  • - 01 (Một) xe máy, nhãn hiệu Honda, loại Wave anpha, màu xanh, đen, BKS: 36H1- 114.79, số khung: RLHJA392XNY176893, số máy: JA39E-2672600;
  • - 01 (Một) điện thoại di động, nhãn hiệu IPhone 7 Plus, màu đen, đã qua sử dụng, bên trong gắn 01 thẻ sim 0979379326 (Thu giữ của Nguyễn Bá T)
  • - 01 (Một) điện thoại di động, nhãn hiệu IPhone, màu vàng trắng, đã qua sử dụng, bên trong gắn thẻ sim 0396840136 (Thu giữ của Lê Văn V).

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Bá T, Lê Văn V: Không phát hiện, thu giữ đồ vật tài liệu liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy của T và V.

Tại bản Kết luận giám định số 1414/KL-KTHS ngày 11/4/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Các viên nén màu hồng và màu xanh đựng trong 04 túi nilon màu xanh và 01 túi nilon màu hồng niêm phong gửi giám định có tổng khối lượng 96,951 gam, là ma túy loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra, các bị cáo khai nhận như sau:

Khoảng 11 giờ trưa, ngày 07/4/2023, Nguyễn Bá T rủ Lê Văn V đi lên huyện M, tỉnh Thanh Hóa để mua ma túy (hồng phiến) để về sử dụng và có ai hỏi mua thì bán lại kiếm lời. V đồng ý rồi điều khiển xe máy BKS 36H1- 114.79 (T mượn của chị Lê Thị Đ) chở T đi từ thị trấn L, theo quốc lộ A đi lên huyện M tìm mua ma túy. Khoảng 14 giờ cùng ngày, T và V đi đến khu vực xã N, huyện M, tỉnh Thanh Hóa thì dừng lại rồi vào một quán bia ven đường (gần khu vực chợ N2) uống bia. Tại đây, trong lúc uống bia, T, V nghe thấy một người đàn ông (là khách đang ngồi uống bia ở bàn bên cạnh) nói chuyện với bạn bè là hàng chỗ này ngon hơn hàng hôm trước (T và V hiểu là người này biết chỗ mua ma túy), nên T đi sang hỏi thăm, nhờ giới thiệu chỗ mua hồng phiến. Người đàn ông này bảo T cứ đi lên nhà một người đàn ông dân tộc Mông, ở cuối đường bê tông, đối diện cổng chợ N2 (mọi người hay gọi là B) cho bố mấy đồng tiền công, mua bao nhiêu thì đưa tiền bảo B mua cho, ngựa (tức hồng phiến) thì 1.500.000đ/1 đàn (tức một túi hồng phiến 200 viên có giá 1.500.000đ). Sau đó, T quay lại bàn rồi cùng V đi vào đường bê tông, phía đối diện cổng chợ N2. Khi đi đến cuối đường, cách quốc lộ A khoảng 200m, T đi vào căn nhà bằng gỗ nằm phía trong cùng, thì thấy có một người đàn ông dân tộc Mông, khoảng 70 tuổi đang ở nhà một mình. T hỏi “Bố lấy cho con ít ngựa”, người đàn ông này đồng ý. T lấy trong người ra 8.000.000đ (Tám triệu đồng), nói: “Bố lấy cho con 5 đàn, còn 500.000đ con cho bố”. Người này cầm tiền, bảo T đợi. Lúc này, V đi vào, rồi cùng T ngồi dưới bếp đợi, còn người đàn ông này khóa cửa ngoài đi mua ma túy. Khoảng 18 giờ cùng ngày, người đàn ông này quay về, đưa cho T 01 gói nilon màu đen. T mở ra kiểm tra thì thấy bên trong có 05 túi hồng phiến (gồm 01 túi màu hồng và 04 túi màu xanh, bên trong đều đựng các viên hồng phiến). Sau khi kiểm tra, T buộc lại gói ma túy như ban đầu, rồi cùng V đi bộ ra đường bê tông, T đưa gói ma túy vừa mua cho V cầm để T lái xe. V cầm gói ma túy, giấu vào túi áo khoác đang mặc, rồi ngồi phía sau xe máy BKS 36H1- 114.79 do T điều khiển đi về L. Khoảng 20 giờ 50 phút cùng ngày, T và V về đến đoạn thôn C, xã Đ, huyện L, tỉnh Thanh Hóa thì bị Công an huyện L yêu cầu dừng xe kiểm tra. Khi thấy lực lượng Công an, V lấy gói ma túy đang giấu trong túi áo ném xuống lề đường, còn T định quay đầu xe bỏ chạy nhưng lực lượng Công an đã bắt giữ tại chỗ và thu giữ toàn bộ số ma túy (05 túi hồng phiến) đựng trong gói nilon màu đen mà V vừa ném xuống đường.

Quá trình điều tra, Nguyễn Bá T và Lê Văn V có thay đổi lời khai, khai lại là trưa ngày 07/4/2923, T chỉ rủ V đi lên M chơi, khi lên đến M, trong lúc uống bia, T nghe thấy một người khách nói chuyện biết chỗ mua ma túy nên T rủ V đi vào nhà một người đàn ông dân tộc Mông mua 05 túi hồng phiến. Sau khi mua được hồng phiến, T đưa cho V cầm rồi điều khiển xe máy chở V về L, trên đường về V có hỏi T mua ma túy làm gì mà mua nhiều thế, T mới nói là mua về để sử dụng và có ai hỏi mua thì bán. Tuy nhiên, Nguyễn Bá T và Lê Văn V vẫn khai nhận cùng nhau đi mua số ma túy trên mục đích để sử dụng và có ai hỏi mua thì bán, chưa bán được cho ai thì bị phát hiện và thu giữ.

Căn cứ tài liệu điều tra, đủ căn cứ xác định Nguyễn Bá T và Lê Văn V cùng phải chịu trách nhiệm và bị xử lý về hành vi mua bán trái phép chất ma túy với tổng khối lượng 96,951 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng và bán kiếm lời.

* Xử lý vật chứng thu giữ:

  • - 01 (Một) điện thoại di động, nhãn hiệu IPhone 7 Plus, màu đen, đã qua sử dụng, bên trong gắn 01 thẻ sim 0979379326 (Thu giữ của Nguyễn Bá T)
  • - 01 (Một) điện thoại di động, nhãn hiệu IPhone, màu vàng trắng, đã qua sử dụng, bên trong gắn thẻ sim 0396840136 (Thu giữ của Lê Văn V);

- Đối với xe máy, nhãn hiệu Honda, loại Wave anpha, màu xanh, BKS 36H1- 114.79, số khung: RLHJA392XNY176893, số máy: JA39E-2672600, thu giữ của Nguyễn Bá T, quá trình điều tra, Nguyễn Bá T khai nhận: Xe máy, nhãn hiệu Honda, loại Wave anpha, màu xanh, BKS 36H1- 114.79, là xe máy của Lê Thị Đ, sinh năm 2004, trú tại khu phố C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Thanh Hóa, mua trước khi kết hôn với T. Tháng 3 năm 2023, Đ và T đăng ký kết hôn và về ở với nhau. Do T không có xe máy nên trước đó khoảng 3 ngày T có mượn xe máy của Đ để đi làm (T chỉ nói là mượn xe đi công việc không nói đi đâu, làm gì).

Tiến hành làm việc với Lê Thị Đ, tại cơ quan điều tra, Đ khai nhận: Xe máy, nhãn hiệu Honda, loại Wave anpha, màu xanh, BKS 36H1- 114.79 là xe máy của Đ mua từ năm 2022, bằng tiền cá nhân của Đ, do Đ đăng ký chủ sở hữu phương tiện. Đầu năm 2023, sau khi đăng ký kết hôn với Nguyễn Bá T, Đ và T về ở với nhau. Do T không có xe, nên thỉnh thoảng có công việc T lấy xe máy của Đ để đi lại. Ngày 03/4/2022, T lấy xe máy của Đ để đi, nhưng T không nói với Đ là đi đâu, làm gì. Đ hoàn toàn không biết T sử dụng xe máy trên để đi mua ma túy.

Tiến hành tra cứu chủ sở hữu phương tiện, xác định chủ đăng ký xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave anpha, màu xanh, đen, BKS 36H1-114.79, số khung RLHJA392XNY176893, số máy JA39E-2672600 là Lê Thị Đ, sinh năm 2004, trú tại khu phố C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Thanh Hóa, đăng ký lần đầu ngày 28/7/2022. Tiến hành tra cứu xe vật chứng, xác định, xe máy xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave anpha, màu xanh, BKS 36H1-114.79, số khung RLHJA392XNY176893, số máy JA39E-2672600 không nằm trong dữ liệu xe vật chứng của các vụ án khác.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã triệu tập Lê Thị Đ đến để làm việc liên quan đến xe máy trên, để có căn cứ ra quyết định xử lý vật chứng, đồ vật, tài sản. Tuy nhiên, hiện nay, Lê Thị Đ đang bị Cơ quan CSĐT Công an huyện L khởi tố, tạm giam về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

- Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định, Cơ quan điều tra chuyển đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa để bảo quản và xử lý theo quyết định của pháp luật.

* Các tình tiết khác liên quan đến vụ án:

Về nguồn gốc số ma túy: Sau khi bị bắt, Nguyễn Bá T, Lê Văn V khai nhận: chiều ngày 07/4/2023, T và V đi lên khu vực xã N, huyện M, tỉnh Thanh Hóa mua ma túy của một người đàn ông dân tộc Mông, khoảng 70 tuổi, (mọi người thường gọi là B) nhà ở cuối đường bê tông (phía đối diện cổng chợ N2), cách đường chính khoảng 200m mua 05 túi hồng phiến với giá 7.500.000đ và cho 500.000đ là tiền công.

Căn cứ lời khai của Nguyễn Bá T và Lê Văn V, Công an huyện L đã tiến hành xác minh, xác định người đàn ông dân tộc Mông, nhà ở cuối đường bê tông, phía đối diện chợ N2 (mọi người hay gọi là B) tên là Sung Chia G, sinh năm 1937, trú tại bản Chim, xã N, huyện M, tỉnh Thanh Hóa. Tuy nhiên, tại thời điểm xác minh, Sung C không có ở nhà, do đó, Cơ quan điều tra Công an huyện L đã tiến hành thu thập lý lịch cá nhân của Sung Chia G, đồng thời chụp ảnh căn nhà của Sung C (ảnh chi tiết bên ngoài, bên trong, các vật dụng trong nhà, đường vào nhà) để T và V nhận dạng. Tuy nhiên, sau khi được quan sát các bức ảnh được chụp tại nhà của Sung Chia G (ảnh màu được chụp ở nhiều vị trí khác nhau) thì chỉ có Nguyễn Bá T khẳng định là căn nhà mà T và V đã đi vào đưa tiền để nhờ người đàn ông dân tộc Mông mua ma túy vào chiều ngày 07/4/2023. Đối với Lê Văn V, không nhớ chính xác đặc điểm căn nhà của người đàn ông dân tộc M mà T và V nhờ mua ma túy vào chiều ngày 07/4/2023.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu thập bản ảnh của Sung Chia Gia để Nguyễn Bá T, Lê Văn V nhận dạng, nhằm xác định người đàn ông dân tộc Mông mà T và V đã đưa tiền để mua 05 túi hồng phiến vào chiều ngày 07/4/2023.

Kết quả nhận dạng: Đối với Nguyễn Bá T, sau khi quan sát các bản ảnh, T nhận ra người đàn ông mà T đã đưa tiền để nhờ đi mua 05 túi hồng phiến vào chiều ngày 07/4/2023 là Sung Chia Gia . Đối với Lê Văn V, cơ quan điều tra cũng cho V nhận dạng người qua ảnh để xác định người đã bán ma túy cho T và V. Tuy nhiên, sau khi quan sát các bản ảnh, V không nhớ rõ đặc điểm nhận dạng của người đàn ông đã nhận tiền và đi mua ma túy cho T và V vào ngày 07/4/2023.

Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập đối với Sung Chia Gia để đấu tranh, làm rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy vào ngày 07/4/2023, tuy nhiên Sung Chia Gia đều vắng mặt, gia đình và chính quyền địa phương không biết Sung C Gia đi đâu, làm gì. Tiến hành làm việc với Sung Dị L1 (tên gọi khác là L2) sinh năm 1993, trú tại bản C, xã N, huyện M (là con trai Sung Chia Gia, hiện là cán bộ văn hóa xã N) để làm rõ lý do Sung Chia Gia vắng mặt. Theo Lênh trình bày, từ thời điểm S1 bị Công an huyện L đến nhà xác minh, triệu tập đến nay (khoảng từ tháng 4/2023 đến nay), S1 đã đi khỏi nhà chưa về, gia đình không biết Sung Chia G đi đâu, làm gì, không ai có thông tin gì về Sung Chia Gia . Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm đối với Sung Chia G, nhưng đến nay chưa xác định được đối tượng đi đâu làm gì.

Do đó, Cơ quan điều tra chưa thể trực tiếp đấu tranh làm rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Sung Chia G vào ngày 07/4/2023. Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để điều tra, xác minh làm rõ hành hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Sung Chia G nhưng chưa có kết quả. Do đó, Cơ quan điều tra sẽ tách tài liệu liên quan đến hành vi của S Chia Gia để tiếp tục xác minh làm rõ, nếu đủ căn cứ sẽ xử lý trong vụ án khác.

Tại Cáo trạng số 27/CT -VKS- P1 ngày 22 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, đã Quyết định:

Truy tố Nguyễn Bá T và Lê Văn V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm: Tuyên bố Nguyễn Bá T và Lê Văn V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

  • - Áp dụng điểm b khoản 3, 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Bá T từ 18 năm đến 19 năm tù. Được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam;
  • Hình phạt bổ sung: Đề nghị phạt tiền đối với bị cáo T từ 05 triệu đồng đến 10 triệu đồng.
  • Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Văn V từ năm 18 năm đến 19 năm tù. Được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam;
  • Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với V.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46 BLHS và Điều 106 BLTTHS:

  • - Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ còn lại sau giám định.
  • - Trả cho Nguyễn Bá T 01 (Một) điện thoại di động, nhãn hiệu IPhone 7 Plus, màu đen, đã qua sử dụng, bên trong gắn 01 thẻ sim 0979379326 và Lê Văn V 01 (Một) điện thoại di động, nhãn hiệu IPhone, màu vàng trắng, đã qua sử dụng, bên trong gắn thẻ sim 0396840136 do không liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
  • - Trả lại 01 xe máy, nhãn hiệu Honda, loại Wave anpha, màu xanh, BKS 36H1- 114.79, cho chị Lê Thị Đ, sinh năm 2004, trú tại khu phố C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Thanh Hóa. Do chị Đ là chủ sở hữu hợp pháp, khi T mượn xe máy của Đ không nói cho chị Đ biết T sử dụng xe để đi mua bán ma túy.

Người bào chữa của bị cáo Nguyễn Bá T đưa ra quan điểm bào chữa:

Đồng ý tội danh và điều luật áp dụng như cáo trạng đã truy tố. Tuy nhiên, mức án mà Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo T là quá nghiêm khắc. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xét xử bị cáo với mức án thấp hơn mức Viện kiểm sát đề nghị. Bị cáo thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy để sử dụng và nếu có ai hỏi thì bán kiếm lời, tuy nhiên, sau khi mua bán ma túy, bị cáo chưa bán được cho ai thì bị bắt giữ, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về chiếc xe máy bị thu giữ là xe của chị Lê Thị Đ (vợ của bị cáo) có từ trước khi kết hôn với bị cáo, bị cáo sử dụng xe đi mua bán ma túy chị Đ không biết nên đề nghị trả lại cho chị Lê Thị Đ.

Người bào chữa của bị cáo Lê Văn V đưa ra quan điểm bào chữa:

Đồng ý tội danh và điều luật áp dụng như cáo trạng đã truy tố. Tuy nhiên, mức án mà Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo V là quá nghiêm khắc. V đồng phạm với vai trò là người giúp sức, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xét xử bị cáo với mức án thấp hơn mức Viện kiểm sát đề nghị.

Lời sau cùng các bị cáo nhận tội, xin được giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất để có cơ hội cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra truy tố, các quyết định tố tụng và hành vi tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T, VKSND tỉnh Thanh Hóa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Nguyễn Bá T, Lê Văn V không khiếu nại, thắc mắc gì về tính hợp pháp của các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập. Do vậy các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh và VKSND tỉnh Thanh Hóa và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ là hoàn toàn hợp pháp.

[2] Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo:

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, tang vật thu giữ của vụ án và Kết quả giám định của Phòng K Công an tỉnh T, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 11 giờ trưa, ngày 07/4/2023, Nguyễn Bá T rủ Lê Văn V đi lên huyện M, tỉnh Thanh Hóa để mua ma túy. Khi lên đến M, T và V vào nhà một người đàn ông dân tộc Mông mua 05 túi hồng phiến với mục đích mua về để sử dụng, nếu có ai hỏi thì bán. Khoảng 20 giờ 50 phút cùng ngày, T và V đi xe máy về đến đoạn thôn C, xã Đ, huyện L, tỉnh Thanh hóa thì bị Công an huyện L yêu cầu dừng xe kiểm tra, bị bắt giữ tại chỗ và thu giữ toàn bộ số ma túy với tổng khối lượng 96,951gam, loại Methamphetamine.

Với hành vi nêu trên, Nguyễn Bá T và Lê Văn V đều phải chịu trách nhiệm hình sự về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội.

[3] Xét tính chất của vụ án là đặc biệt nghiêm trọng, bởi ma tuý là hiểm họa đã và đang huỷ hoại con người cả về thể chất và tinh thần, gây thiệt hại cho kinh tế quốc gia và gây hậu quả xấu cho mỗi gia đình có người nghiện, ma túy cũng là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Các bị cáo Nguyễn Bá T và Lê Văn V biết rõ các hành vi phạm tội liên quan đến ma túy khi bị phát hiện sẽ bị pháp luật xử phạt rất nghiêm khắc, song bản thân nghiện ma túy, bên cạnh đó các bị cáo do hám lợi đã liều lĩnh, bất chấp đi mua ma túy về để sử dụng và bán kiếm lời nên đã bị phát hiện, bắt giữ.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý, sử dụng các chất gây nghiện của nhà nước, gieo giắc tệ nạn xã hội trong nhân dân và tiếp tay cho tội phạm ma túy ngày càng tăng, gây hậu quả xấu về kinh tế, sức khỏe, an toàn cho xã hội. Đặc biệt việc mua bán trái phép chất ma túy hiện nay trên phạm vi cả nước nói chung và địa bàn miền núi T nói riêng ngày càng gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp, gây lo lắng cho nhân dân. Do đó, cần phải xử phạt nghiêm minh đối với các bị cáo, làm bài học giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xem xét về vai trò, nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Trong vụ án này, Nguyễn Bá T và Lê Văn V cùng thực hiện hành vi đi mua 96,951 gam ma túy, loại Methamphetamine, nhằm mục đích để sử dụng và bán lại kiếm lời, T và V đồng phạm về tội mua bán trái phép chất ma túy. Trong đó, Nguyễn Bá T là người khởi xướng, trực tiếp liên hệ, đặt vấn đề để nhờ người đàn ông dân tộc Mông mua 05 túi hồng phiến, trực tiếp bỏ tiền để mua ma túy nên giữ vai trò thứ nhất trong vụ án. Lê Văn V là người chở T đi M để mua ma túy, sau khi mua được ma túy, V cất giấu ma túy trong người để đem về cùng T sử dụng và bán kiếm lời. Do đó, Lê Văn V đồng phạm với vai trò là người giúp sức. Do đó, V giữ vai trò thứ hai trong vụ án.

Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Bá T không có tiền án, có 01 tiền sự ngày 29/12/2021 bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã chấp hành xong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 30/3/2022.

Bị cáo Lê Văn V có 01 tiền án: Ngày 24/11/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 30 tháng tù giam về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/5/2022. Do đó, lần phạm tội này, bị cáo V thuộc trường hợp “tái phạm”, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình nên được xem xét hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm, gia đình bị cáo Nguyễn Bá T có giao nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ bao gồm: Giấy chứng nhận dân tộc của bị cáo Nguyễn Bá T; bị cáo có bố là ông Nguyễn Bá T1 là cựu chiến binh, tham gia chiến đấu tại chiến trường Campuchia, có giấy chứng nhận bị thương và được hưởng trợ cấp đối với đối tượng tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, do đó bị cáo Nguyễn Bá T được xem xét hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và khối lượng ma túy thu giữ của vụ án, cần phải buộc các bị cáo cách ly xã hội một thời gian với mức án như Kiểm sát viên đề nghị, để cải tạo các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo thực hiện hành vi mua bán trái phép ma túy để sử dụng và bán kiếm lời. Tuy nhiên, sau khi mua bán ma túy, các bị cáo chưa bán được cho ai thì bị bắt giữ nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

Các tang vật đã được Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T chuyển đến Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa, theo Biên bản giao nhận vật chứng số 125/2024/TV-CTHADS ngày 24/4/2024, gồm:

  • - Số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành, cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy;
  • - 01 xe máy, nhãn hiệu Honda, loại Wave anpha, màu xanh, BKS 36H1- 114.79 thu giữ của bị cáo T là xe của chị Lê Thị Đ (vợ của bị cáo T) mua từ năm 2022, bằng tiền cá nhân của Đ, do Đ đăng ký chủ sở hữu phương tiện. Đầu năm 2023, sau khi đăng ký kết hôn với Nguyễn Bá T, Đ và T về ở với nhau. Do T không có xe, nên thỉnh thoảng có công việc T lấy xe máy của Đ để đi lại. Ngày 03/4/2022, T lấy xe máy của Đ để đi, nhưng T không nói với Đ là đi đâu, làm gì, Đ hoàn toàn không biết T sử dụng xe máy trên để đi mua ma túy nên cần trả lại cho chị Đ.
  • - 01 điện thoại di động Iphone 7plus, màu đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong thu của Nguyễn Bá T, không phải là phương tiện, công cụ phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
  • - 01 điện thoại Iphone màu vàng trắng, điện thoại đã bị vỡ, hư hỏng. Điện thoại cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong, thu của Lê Văn V, không phải là phương tiện, công cụ phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Bá T và Lê Văn V phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

  1. Áp dụng: Điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Bá T.
  2. Xử phạt: Nguyễn Bá T 18 (Mười tám) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/4/2023.

  3. Áp dụng: Điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Lê Văn V.
  4. Xử phạt: Lê Văn V 18 (Mười tám) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/4/2023.

  5. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  6. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định trong phong bì được dán kín niêm phong, mặt sau có các chữ ký chữ viết ghi rõ họ tên của Nguyễn Trần Đ1, Lê Mạnh C1 và các dấu hình tròn đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh T, phong bì do Công an tỉnh T (Kèm KLGĐ số 1414/KL-KTHS ngày 11/4/2023).
    • - Trả lại cho chị Lê Thị Đ 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave anpha màu xanh đen, gắn biển số 36H1 - 114.79. Xe cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy bên trong.
    • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Bá T 01 điện thoại di động Iphone 7plus, màu đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong.
    • - Trả lại cho bị cáo Lê Văn V 01 điện thoại Iphone màu vàng trắng, điện thoại đã bị vỡ, hư hỏng. Điện thoại cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong.
    • Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại Cục THADS tỉnh T theo Biên bản giao nhận vật chứng số 125/2024/TV-CHADS ngày 24/4/2024 giữa Phòng Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T (PC04) và Cục THADS tỉnh T.
  7. Án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án:
  8. Buộc bị cáo Nguyễn Bá T và bị cáo Lê Văn V mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  9. Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị Đ có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết. /.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - PC04-Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu HS, VP, Tòa HS.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Anh Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 106/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 106/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Bá T + Lê Văn V "Mua bán trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger