|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 106/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27/9/2024 V/v: “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Mai
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Điệp
Bà Trần Thanh Phương
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Phương Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Hương Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 238/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 215/2024/QĐST-HNGĐ ngày 9 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1975.
Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Anh Đỗ Minh T1, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
(Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T1 vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện đề ngày 14 tháng 5 năm 2024 và lời khai có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đỗ Minh T1 có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai vào năm 2022. Vợ chồng sống chung thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do không cùng quan điểm dẫn đến vợ chồng thường xuyên gây gỗ, anh T1 nghiện ma túy, phá tán tài sản và đánh đập chị, vợ chồng đã ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Nay chị nhận thấy không còn tình cảm và mục đích hôn nhân không đạt nên chị xin được ly hôn với anh Đỗ Minh T1.
Về con chung: Có 01 con chung tên Đỗ Minh T2, sinh ngày 28/4/2021. Trường hợp ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn anh Đỗ Minh T1 đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, giấy triệu tập, thông báo giao nộp chứng cứ, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không đến Tòa làm việc nên không ghi được lời khai và không tiến hành hòa giải được.
Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Từ khi thụ lý, quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ theo đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định pháp luật.
Về đường lối giải quyết vụ án: Chị T và anh T1 có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai vào năm 2022. Vợ chồng sống chung thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do không cùng quan điểm dẫn đến vợ chồng thường xuyên gây gỗ anh T1 nghiện ma túy, phá tán tài sản và đánh đập chị, vợ chồng đã ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Nay chị nhận thấy không còn tình cảm và mục đích hôn nhân không đạt nên chị xin được ly hôn với anh Đỗ Minh T1.
Do chị T và anh T1 kết hôn vào năm 2022, khi kết hôn anh chị có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8,9 Luật HNGĐ năm 2014. Nhận thấy, chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật HNGĐ năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị T.
Về con chung: Có 01 con chung tên Đỗ Minh T2, sinh ngày 28/4/2021. Khi ly hôn, chị T đề nghị được nuôi con chung, chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con. Xét việc chị T yêu cầu được nuôi con là có cơ sở nên căn cứ vào Điều 58 Luật HNGĐ năm 2014, đề nghị Tòa án giao cháu Đỗ Minh T2, sinh ngày 28/4/2021 cho chị T nuôi dưỡng, tạm thời anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, về nợ chung: Không có không yêu cầu Tòa giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Đỗ Minh T1 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh T1.
[2]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp ly hôn. Bị đơn anh Đỗ Minh T1 có địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
[3]. Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T về việc xin ly hôn với anh Đỗ Minh T1 thì thấy rằng: Chị T, anh T1 kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai năm 2022 nên xác định hôn nhân giữa chị T, anh T1 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ. Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi xét xử Tòa án đã nhiều lần gửi giấy triệu tập làm việc, hòa giải nhưng anh T1 không đến Tòa làm việc chứng tỏ việc anh T1 bỏ mặc hôn nhân, không có thiện chí hàn gắn xây dựng gia đình. Qua xác minh tại UBND xã P mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh T1 địa phương không nắm được, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xét xử theo quy định của pháp luật.
Xét thấy, vợ chồng chị T, anh T1 đã mâu thuẫn trầm trọng, quá trình ly thân đã lâu nhưng vợ chồng không bàn bạc đoàn tụ chứng tỏ mục đích hôn nhân không đạt. Do đó chấp nhận đơn xin ly hôn của chị T, xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Đỗ Minh T1.
Về con chung: Có 01 con chung tên Đỗ Minh T2, sinh ngày 28/4/2021, trường hợp ly hôn chị T đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu về việc nuôi con chung của chị T thì thấy rằng hiện tại cháu T2 còn nhỏ. Do đó để đảm bảo cho sự phát triển một cách tốt nhất thì cần tiếp tục giao cháu Đỗ Minh T2, sinh ngày 28/4/2021 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Đương sự khai không có nên không xét.
Về nợ chung: Đương sự khai không có nên không xét.
[4] Về án phí: Chị T là người nộp đơn xin ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật.
Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 227, 228, 235, 238, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 8,9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T về việc xin ly hôn với anh Đỗ Minh T1. Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Đỗ Minh T1.
- Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Đỗ Minh T2, sinh ngày 28/4/2021 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời anh Đỗ Minh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn chị T, anh T1 vẫn phải có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Anh T1 có quyền thăm nom con; không ai được cản trở anh T1 thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Đương sự khai không có nên không xét.
- Về nợ chung: Đương sự khai không có nên không xét.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0017847 ngày 23/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai. Chị T đã nộp đủ án phí.
Chị Nguyễn Thị T, anh Đỗ Minh T1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
* Nơi nhận : T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
- CCTHADS H. Nhơn Trạch; - VKSND H. Nhơn Trạch; - Tòa án ND tỉnh Đồng Nai; - Các đương sự; - UBND xã; - Lưu văn phòng. |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Xuân Mai |
Bản án số 106/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 106/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T về việc xin ly hôn với anh Đỗ Minh T1 thì thấy rằng: Chị T, anh T1 kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai năm 2022 nên xác định hôn nhân giữa chị T, anh T1 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ. Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi xét xử Tòa án đã nhiều lần gửi giấy triệu tập làm việc, hòa giải nhưng anh T1 không đến Tòa làm việc chứng tỏ việc anh T1 bỏ mặc hôn nhân, không có thiện chí hàn gắn xây dựng gia đình. Qua xác minh tại UBND xã P mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh T1 địa phương không nắm được, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xét xử theo quy định của pháp luật. Xét thấy, vợ chồng chị T, anh T1 đã mâu thuẫn trầm trọng, quá trình ly thân đã lâu nhưng vợ chồng không bàn bạc đoàn tụ chứng tỏ mục đích hôn nhân không đạt. Do đó chấp nhận đơn xin ly hôn của chị T, xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Đỗ Minh T1. Về con chung: Có 01 con chung tên Đỗ Minh T2, sinh ngày 28/4/2021, trường hợp ly hôn chị T đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu về việc nuôi con chung của chị T thì thấy rằng hiện tại cháu T2 còn nhỏ. Do đó để đảm bảo cho sự phát triển một cách tốt nhất thì cần tiếp tục giao cháu Đỗ Minh T2, sinh ngày 28/4/2021 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Đương sự khai không có nên không xét. Về nợ chung: Đương sự khai không có nên không xét.
