|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE Bản án số: 106/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26 - 8 - 2024 Về việc: “Ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Lâm
Bà Phạm Thị Thu Trang
Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Quốc Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại tham gia phiên tòa: Ông Phan Hoàng Quí Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 181/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 181/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 147/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Trần Lê Kiều G, sinh ngày: 20/9/1996 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Ấp V, xã Q, huyện B, tỉnh T.
- - Bị đơn: Võ Phúc H, sinh ngày: 28/12/1994 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Ấp V, xã Q, huyện B, tỉnh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn đề ngày ngày 01/4/2024, bản tự khai ngày 14/5/2024, nguyên đơn chị Trần Lê Kiều G trình bày:
Chị và anh Võ Phúc H kết hôn năm 2019 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc đến tháng 4 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải vã và vợ chồng ly thân đến nay không có hàn gắn tình cảm. Quá trình chung sống, chị và anh H có 01 con chung tên Võ Trần Khải A, sinh ngày: 02/5/2020 chị đang nuôi dưỡng. Tài sản chung, nợ chung: Không có.
Chị Trần Lê Kiều G khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Về quan hệ hôn nhân: Được ly hôn với anh Võ Phúc H.
- - Về con chung: Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
- Tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Trần Lê Kiều G có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 17/6/2024.
* Bị đơn anh Võ Phúc H các lần Tòa án triệu tập hợp lệ để hòa giải, xét xử đến lần thứ hai đều vắng mặt nên không có lời khai.
*Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên Tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Đối với Thẩm phán phân công giải quyết án xác định đúng quan hệ tranh chấp, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các nguyên tắc do pháp luật quy định. Đối với những người tham gia tố tụng thì nguyên đơn có chấp hành tốt theo Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn các lần hòa giải, xét xử đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt là vi phạm nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 119 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Lê Kiều G. Về con chung: Chị Trần Lê Kiều G được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, anh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định. Tài sản chung, nợ chung: Chị Trần Lê Kiều G khai không có nên không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- - Về thủ tục tố tụng:
- Chị Trần Lê Kiều G có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 17/6/2024. Bị đơn anh Võ Phúc H đã được Tòa án nhân dân huyện Bình Đại triệu tập hợp lệ đến Tòa án để xét xử đến lần thứ 2 nhưng anh H đều vắng mặt. Bị đơn anh H vẫn còn sinh sống tại địa phương, thể hiện tại đơn xin xác nhận ngày 01/4/2024 của Công an xã V (Bút lục số 05). Căn cứ khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị G, anh H là phù hợp, đúng quy định pháp luật.
- - Về nội dung vụ án:
- [1] Về quan hệ hôn nhân:
- Chị Trần Lê Kiều G và anh Võ Phúc H kết hôn năm 2019 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, phù hợp quy định của pháp luật nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc đến tháng 4 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị G trình bày là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải vã và vợ chồng ly thân đến nay không có hàn gắn tình cảm. Anh H cũng không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu ly hôn của chị G. Điều đó chứng tỏ anh H không muốn hàn gắn lại tình cảm vợ chồng với chị G, hôn nhân giữa anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung
không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Chị G vẫn giữ yêu cầu được ly hôn với anh H. Xét thấy, yêu cầu ly hôn của chị G đối với anh H là có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- [2] Về con chung:
- Chị Trần Lê Kiều G khai, quá trình chung sống chị và anh Võ Phúc H có với nhau 01 con chung tên Võ Trần Khải A, sinh ngày: 02/5/2020, con chung chị G đang nuôi dưỡng. Ly hôn chị G yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử xét thấy: Từ lúc chung sống và ly thân đến nay chị G là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Anh H đều vắng mặt không có ý kiến phản hồi đối với việc nuôi con chung của chị G. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị G được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Võ Trần Khải A là phù hợp quy định pháp luật theo Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Chị G nuôi dưỡng con chung Võ Trần Khải A có yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung của chị G là phù hợp với quy định của pháp luật theo Điều 107, 110, 117 của Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận. Căn cứ vào khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: “Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con”. Căn cứ Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động của huyện Bình Đại là vùng III, mức lương tối thiểu tháng là 3.860.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định nêu trên, buộc anh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị G hằng tháng số tiền là 1.930.000 đồng (3.860.000 đồng/2). Thời gian anh H thực hiện việc cấp dưỡng tính từ ngày xét xử sơ thẩm ngày 26/8/2024 đến khi con chung Võ Trần Khải A đã thành niên (Đủ 18 tuổi).
- [3] Về tài sản chung, nợ chung:
- Đơn khởi kiện chị Trần Lê Kiều G khai không có nên Hội đồng xét xử không xét đến.
- [4] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên Tòa về việc giải quyết vụ án hôn nhân, con chung, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung và nợ chung là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, diễn biến tại phiên tòa và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
- [5] Về án phí:
- - Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
- Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chị Trần Lê Kiều G phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
- - Án phí cấp dưỡng nuôi anh H phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117, 118 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 233, 238; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động;
Căn cứ điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Trần Lê Kiều G.
- Chị Trần Lê Kiều G được ly hôn với anh Võ Phúc H.
- Về con chung: Chị Trần Lê Kiều G được nuôi dưỡng con chung tên Võ Trần Khải A, sinh ngày: 02/5/2020.
Anh Võ Phúc H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Trần Lê Kiều G hằng tháng số tiền là 1.930.000 đồng (Một triệu chín trăm ba mươi nghìn đồng) kể từ ngày xét xử sơ thẩm ngày 26/8/2024 cho đến khi con chung Võ Trần Khải A đã thành niên (Đủ 18 tuổi).
Trong thời gian con chung của chị G và anh H chưa thành niên (Chưa đủ 18 tuổi), anh chị có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con và có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung. Người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Đơn khởi kiện chị Trần Lê Kiều G khai không có nên Hội đồng xét xử không xét đến.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con:
Chị Trần Lê Kiều G phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005589 ngày 04 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, chị G đã nộp đủ án phí.
Anh Võ Phúc H phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Chị Trần Lê Kiều G và anh Võ Phúc H vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Hồng Phương |
Bản án số 106/2024/HNGĐ-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE về ly hôn
- Số bản án: 106/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117, 118 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 233, 238; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Căn cứ Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động; Căn cứ điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Trần Lê Kiều G. 2. Chị Trần Lê Kiều G được ly hôn với anh Võ Phúc H. 3. Về con chung: Chị Trần Lê Kiều G được nuôi dưỡng con chung tên Võ Trần Khải A, sinh ngày: 02/5/2020. Anh Võ Phúc H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Trần Lê Kiều G hằng tháng số tiền là 1.930.000 đồng (Một triệu chín trăm ba mươi nghìn đồng) kể từ ngày xét xử sơ thẩm ngày 26/8/2024 cho đến khi con chung Võ Trần Khải A đã thành niên (Đủ 18 tuổi). Trong thời gian con chung của chị G và anh H chưa thành niên (Chưa đủ 18 tuổi), anh chị có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con và có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung. Người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. 4. Về tài sản chung, nợ chung: Đơn khởi kiện chị Trần Lê Kiều G khai không có nên Hội đồng xét xử không xét đến. 5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Lê Kiều G phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005589 ngày 04 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, chị G đã nộp đủ án phí. Anh Võ Phúc H phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự. Chị Trần Lê Kiều G và anh Võ Phúc H vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
