TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU Bản án số: 106/2024/HNGĐ-ST Ngày: 23 – 5 – 2024 V/v xin ly hôn | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Hoàng Sơn
Ông Huỳnh Minh Bền
Thư ký phiên toà: Ông Trần Đình Chưởng – Là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 709/2024/TLST-HNGĐ, ngày 11 tháng 12 năm 2023 về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Lê Bửu T, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Ấp E, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Có mặt.
- - Bị đơn: Anh Trần Chí N, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Ấp X (nay là ấp X), xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lê Bửu T trình bày:
Về hôn nhân: Chị Lê Bửu T và anh Trần Chí N chung sống như vợ chồng vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố C theo giấy chứng nhận kết hôn số 34/2015, ngày 27/10/2015. Quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, cự cải nhau nhiều lần, không thể hòa giải hàn gắn được, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, chị T và Anh N đã sống ly thân từ tháng 4/2023 đến nay nên chị T xin được ly hôn với anh N. Nếu Tòa án không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn thì chị T cũng không về chung sống với anh N.
Về con chung: Có hai người con tên Trần Đăng K, sinh ngày 14/02/2017 và Trần Quỳnh G, sinh ngày 15/3/2019, hiện nay cháu G đang sống với chị T, cháu K đang sống với anh N. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được nuôi cháu G, giao cháu K cho anh N nuôi; không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị T xác định không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Đối với anh Trần Chí N, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng anh N không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và vắng mặt không có lý do nên vụ án được tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
- Về thủ tục tố tụng:
- Chị Lê Bửu T có đơn yêu cầu không hòa giải vụ án, nên vụ án không hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án mà đưa vụ án ra xét xử là đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về sự vắng mặt của bị đơn: Anh Trần Chí N được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định.
- Về nội dung tranh chấp được xác định là tranh chấp xin ly hôn. Chị Lê Bửu T và anh Trần Chí N có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố C theo giấy chứng nhận kết hôn số 34/2015, ngày 27/10/2015 nên hôn nhân của chị T và anh N được chấp nhận là hợp pháp và được pháp luật công nhận, bảo vệ. Chị T cho rằng, quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, không thể hòa giải hàn gắn được, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, chị T và Anh N đã sống ly thân từ tháng 04/2023 đến nay, nên chị T xin được ly hôn với anh N. Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng anh N không phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của chị T. Xét thấy, mối quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Bửu T và anh Trần Chí N có nhiều mâu thuẫn, đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên lời trình bày và yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Bửu T có căn cứ nên được chấp nhận.
- Về con chung: Có hai người con tên Trần Đăng K, sinh ngày 14/02/2017 và Trần Quỳnh G, sinh ngày 15/3/2019, hiện nay cháu G đang sống với chị T, cháu K đang sống với anh N. Khi ly hôn, nguyện vọng của cháu K là muốn được sống với anh N, chị T yêu cầu giao cháu K con anh N nuôi; chị T yêu cầu được nuôi cháu G, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Anh N không phản đối yêu cầu của chị T. Xét thấy: Việc giao cháu Trần Đăng K cho anh N tiếp tục nuôi, giao cháu G cho chị T trực tiếp nuôi là phù hợp với nguyện vọng của cháu K, phù hợp với thực tế, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, không làm xáo trộn đời sống, sinh hoạt và ảnh hưởng đến sự phát triển tâm sinh lý bình thường của các con. Do đó, yêu cầu của chị T là phù hợp với thực tế nên được chấp nhận.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí hôn nhân và gia đình chị Lê Bửu T phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
2
Căn cứ Điều 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, 227, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Bửu T được ly hôn với anh Trần Chí N.
- - Về con chung: Giao con Trần Đăng K, sinh ngày 14/02/2017 cho anh Trần Chí N trực tiếp nuôi; Giao con Trần Quỳnh G, sinh ngày 15/3/2019 cho chị Lê Bửu T trực tiếp nuôi.
- Anh N, chị T được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở.
- - Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
- Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm chị Lê Bửu T phải chịu 300.000 đồng. Ngày 08 tháng 12 năm 2023, chị Lê Bửu T đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0007760 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được giữ y sung quỹ nhà nước.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Chị Lê Bửu T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Trần Chí N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Linh |
3
Bản án số 106/2024/HNGĐ-ST ngày 23/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về xin ly hôn
- Số bản án: 106/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.
