Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG


Bản án số: 106/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 16/7/2021
“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Sĩ Quang và Ông Phạm Công Định

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 16 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 52/2021/HNGĐ – TLST ngày 01/4/2021, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2021/QĐXXST – HNGĐ ngày 16/6/2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 88/2021/QĐ-ST ngày 01/7/2021 giữa:

  1. Nguyên đơn: Anh Hoàng Văn T, sinh ngày 15/10/1985.
    ĐKHKTT: Thôn Tr, xã Th, huyện L, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).
  2. Bị đơn: Chị Phạm Thị L, sinh ngày 13/01/1990.
    Nơi cư trú trước khi xuất cảnh: Thôn Tr, xã Th, huyện L, tỉnh Hải Dương.
    Hiện đang Lao động tại Đài Loan (vắng mặt).
  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Văn B, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị N (vắng mặt).
    Địa chỉ: Thôn K, xã Th, huyện L, tỉnh Hải Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai - Nguyên đơn anh Hoàng Văn T trình bầy: Anh và chị L tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Th, huyện L, tỉnh Hải Dương ngày 07/12/2009. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian, đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm thấy tiếng nói chung, đã nhiều lần anh chị đặt vấn đề về việc ly hôn, nhưng sau đó do được gia đình động viên nên anh chị đã suy nghĩ lại và không nộp đơn ly hôn. Đầu năm 2019 chị L tự ý làm thủ tục đi Đài Loan, không bàn bạc với anh. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị L.

Về con chung: Vợ chồng anh có 2 con chung là Hoàng Thị Thu Tr, sinh ngày 29/8/2010 và cháu Hoàng Thị Hà M, sinh ngày 17/04/2017. Hiện nay hai cháu đang ở với anh. Ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi cả hai con, tự nguyện không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Quá trình giải quyết vụ án, chị L có nguyện vọng được nuôi cháu Tr và cháu Tr cũng có nguyện vọng được ở với mẹ nên anh đồng ý để chị L nuôi cháu Tr, trong thời gian chị L không có ở Việt Nam, anh đồng ý để cháu Tr sống cùng ông bà ngoại là ông Phạm Văn B và bà Nguyễn Thị N. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau.

Về tài sản chung: Anh xác định vợ chồng có tài sản chung là nhà đất tại thôn Tr, xã Th, huyện L, tỉnh Hải Dương. Hiện tại tài sản này anh đang quản lý và sử dụng. Do chị L không có mặt tại Việt Nam nên anh chưa đề nghị Tòa án giải quyết. Sau này chị L về Việt Nam anh chị sẽ giải quyết sau.

- Do hiện nay chị Phạm Thị L đang lao động tại Đài Loan, không có mặt tại Việt Nam, anh T không cung cấp được địa chỉ của chị L ở nước ngoài nên Tòa án đã lấy lời khai của ông Phạm Văn B và bà Nguyễn Thị N. Ông B, bà N xác định chị L đi Đài Loan lao động từ tháng 01/2019 nhưng ông bà không biết địa chỉ của chị L nên không thể cung cấp cho Tòa án. Tuy nhiên ông B, bà N cho biết chị L vẫn thường xuyên gọi điện về cho ông bà. Ông B đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho chị L biết. Thông qua gia đình chị L có quan điểm về tình cảm vợ chồng chị đồng ý ly hôn; về con chung chị có nguyện vọng được nuôi cháu Tr, trong thời gian không ở Việt Nam chị ủy quyền cho bố mẹ đẻ chăm sóc cháu Tr. Về tài sản chung: Chị L xác định vợ chồng có tài sản chung là nhà đất tại thôn Tr, xã Th, huyện L, tỉnh Hải Dương, hiện nay anh T đang quản lý và sử dụng. Chị L có quan điểm chưa đề nghị Tòa án giải quyết tài sản chung, sau này về Việt Nam chị sẽ yêu cầu giải quyết sau.

Cháu Hoàng Thị Thu Tr là con chung của anh T chị L có nguyện vọng được ở với mẹ và ông bà ngoại khi bố mẹ ly hôn. Ông B, bà N đồng ý chăm sóc cháu Tr thay chị L.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn của anh T, chị L đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho anh T được ly hôn chị L. Về con chung: Giao cháu Hoàng Thị Thu Tr cho chị L chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao cháu Hoàng Thị Hà M cho anh T chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian chị L không có mặt tại Việt Nam, tạm giao cháu Tr cho ông Phạm Văn B và bà Nguyễn Thị N chăm sóc, nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau. Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Chưa xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, anh T không cung cấp được địa chỉ của chị L ở Đài Loan. Theo hướng dẫn tại công văn số 253/TANDTC – PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân tối cao, Tòa án đã nhiều lần yêu cầu gia đình của chị L cung cấp địa chỉ, nhưng gia đình không cung cấp được. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Qua xác minh tại gia đình chị L thì được biết, chị L thường xuyên liên lạc với bố mẹ đẻ là ông Phạm Văn B và bà Nguyễn Thị N. Ông B, bà N đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho chị L biết, chị L có quan điểm đồng ý ly hôn và ủy quyền cho bố mẹ đẻ chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Tr trong thời gian chị không ở Việt Nam. Do đó Tòa án xác định ông B, bà N là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Quá trình giải quyết vụ án anh T, chị L, bà N, ông B có quan điểm xin được xét xử vắng mặt. Do vậy căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Về nội dung.

2.1 Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Văn T và chị Phạm Thị L kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Th, huyện L, tỉnh Hải Dương ngày 07/12/2009, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm nên vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn và không tìm thấy tiếng nói chung. Mặc dù đã được gia đình hai bên động viên hòa giải nhưng không đem lại kết quả. Thực tế từ năm 2019 chị L đi lao động tại Đài Loan, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Nay anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị L. Thông qua gia đình chị L cũng có quan điểm đồng ý ly hôn với anh T. Do vậy có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh T.

2.2 Về con chung: Anh Hoàng Văn T và chị Phạm Thị L có hai con chung là Hoàng Thị Thu Tr, sinh ngày 29/8/2010 và cháu Hoàng Thị Hà M, sinh ngày 17/04/2017. Ly hôn chị L có nguyện vọng được nuôi cháu Tr, anh T có nguyện vọng được nuôi cháu M. Xét thấy, sự thỏa thuận của anh chị là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật và phù hợp với điều kiện thực tế của các bên. Ông B, bà N cũng đồng ý chăm sóc cháu Tr trong thời gian chị L không ở Việt Nam. Do vậy có căn cứ giao cháu Tr cho chị L nuôi dưỡng, giao cháu M cho anh T nuôi dưỡng. Trong thời gian chị L không có ở Việt Nam, tạm giao cháu Tr cho ông B, bà N chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

2.3 Về tài sản chung: Anh Hoàng Văn T và chị Phạm Thị L đều xác định vợ chồng có nhà và đất tại thôn Trung, xã Th, huyện L, tỉnh Hải Dương, hiện nay anh T đang quản lý và sử dụng. Anh T, chị L chưa đề nghị giải quyết tài sản chung trong vụ án này. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét. Các đương sự có quyền yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng trong vụ án khác.

[3]. Về án phí: Anh Hoàng Văn T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Hoàng Văn T được ly hôn chị Phạm Thị L.

2. Về con chung: Giao con chung Hoàng Thị Hà M, sinh ngày 17/04/2017 cho anh T nuôi dưỡng. Giao con chung Hoàng Thị Thu Tr, sinh ngày 29/8/2010 cho chị L nuôi dưỡng kể từ tháng 7/2021 đến khi con chung tròn 18 tuổi. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau. Trong thời gian chị L không ở Việt Nam, tạm giao cháu Tr cho ông Phạm Văn B và bà Nguyễn Thị N chăm sóc, nuôi dưỡng.

Anh T, chị L được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.

4. Về án phí: Anh Hoàng Văn T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số AA/2018/0005816 ngày 30 tháng 3 năm 2021 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Anh T đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Anh Hoàng Văn T, ông Phạm Văn B, bà Nguyễn Thị N được quyền kháng cáo bản án trong thời gian 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Chị Phạm Thị L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Hải Dương;
- Các đương sự;
- Cục THADS tỉnh Hải Dương;
- UBND xã Th;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa


(Đã ký)


Nguyễn Thị Thu Hiền
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 106/2021/HNGĐ-ST ngày 16/07/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 106/2021/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger