Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 106/2020/HNGĐ-ST

Ngày 13/11/2020.

“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ong Thân Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Th Bình - Cán bộ hưu.

Bà Nguyễn Thị Bích - Cán bộ hưu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Sơn - Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 13/11/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 111/2020/TLST-HNGĐ ngày 27/7/2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/9/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 104/2020/QĐST-HNGĐ ngày 28/9/2020; Quyết định tạm ngừng số 43/2020/QĐ-ST ngày 26/10/2020, giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ng – sinh ngày 03/7/1988. Xin vắng mặt.
  • CMND số [...] do Công an tỉnh Bắc Giang cấp.
  • Địa chỉ: thôn GB, xã ĐS, huyện YT, tỉnh BG.
  • * Bị đơn: Anh Nguyễn Văn S – sinh ngày 07/3/1983. vắng mặt không lý do.
  • (Theo sổ hộ khẩu tên gọi khác là K, sinh ngày 07/3/1984)
  • CMND số [...] do Công an tỉnh Bắc Giang cấp.
  • Địa chỉ: thôn ĐC, xã ĐH, huyện YT, tỉnh BG.
  • Hiện nay đang đi lao động tại nước ngoài không rõ địa chỉ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Ng trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh S có được tự do tìm hiểu và chúng tôi được sự nhất trí của hai bên gia đình đã tự nguyện kết hôn với nhau, đăng kí kết hôn ngày 02/12/2005 tại UBND xã ĐH, huyện YT, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng tôi chung sống với bình thường, thỉnh thoảng vợ chồng có xảy ra cãi vã, nguyên nhân là do vợ chồng tôi không hợp nhau về mọi mặt, vợ chồng không có tiếng nói chung, hôn nhân không được hạnh phúc nhưng chúng tôi vẫn cố gắng chung sống để nuôi dạy con. Đến năm 2013 tôi đi lao động tại Đài Loan, trong thời gian tôi đi lao động thì vợ chồng tôi vẫn liên lạc với nhau và đến năm 2015 tôi và gia đình đã lo cho anh S đi lao động tại Đài Loan đến đầu năm 2016 tôi hết hạn hợp đồng về nước. Chúng tôi không còn tình cảm với nhau nữa nên chúng tôi đã sống ly thân, tôi và anh S đã thống nhất với nhau qua điện thoại tôi về nhà bố mẹ đẻ tôi sống và tôi sẽ nuôi cháu Q2, còn cháu Q1 thì để cho anh S nuôi, trong thời gian anh S không ở Việt Nam thì mẹ anh S sẽ chăm sóc cháu Q1, cả hai chúng tôi không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay tôi không biết địa chỉ cụ thể của anh S ở Đài Loan, tôi có đến nhà mẹ anh S để hỏi thăm về địa chỉ của anh S nhưng không hỏi được, anh S vẫn thường xuyên liên lạc về với mẹ anh S là bà Lê Thị Th ở thôn ĐC, xã ĐH, huyện YT, tỉnh BG và cháu Nguyễn Văn Q1 (hiện cháu đang ở với mẹ anh S). Vợ chồng tôi cắt đứt mọi quan hệ từ năm 2016 cho đến nay. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không còn hạnh phúc, tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh S để tôi sớm ổn định cuộc sống.

- Về con chung: Vợ chồng tôi có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn Q1, sinh ngày 19/12/2006. Cháu Nguyễn Văn Q2, sinh ngày 19/3/2012. Tôi và anh S đã thống nhất thỏa thuận về việc nuôi con chung từ năm 2016 và thực hiện từ đó đến nay nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung của tôi và anh S.

- Về tài sản chung, quyền sử dụng đất chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về công nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Văn S hiện đang lao động ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với anh Nguyễn Văn S.

* Tòa án đã xác minh thu thập chứng cứ thông qua mẹ của anh S là bà Lê Thị Th - sinh năm 1950. Địa chỉ: thôn ĐC, xã ĐH, huyện YT, tỉnh BG, mẹ đẻ anh S có quan điểm trình bày như sau:

- Tôi là mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn S có địa chỉ như trên. Hiện nay con tôi đang đi lao động tại Đài Loan không có mặt ở tại địa phương nhưng vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình. Về địa chỉ của con tôi ở bên nước ngoài thì tôi không biết nên không cung cấp cho Tòa án được. Tòa án yêu cầu gia đình tôi thông báo để anh S gửi quan điểm về cho Tòa án thì chúng tôi từ chối thực hiện.

- Về việc chị Ng xin ly hôn thì con tôi có quan điểm trao đổi về với gia đình như sau:

  • + Về quan hệ hôn nhân: Con tôi (S) đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Thị Ng.
  • + Về con chung: Có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn Q1 – sinh ngày 19/12/2006 và cháu Nguyễn Văn Q2 – sinh ngày 19/3/2012. Hiện nay cháu Q1 đang ở với gia đình tôi và anh S. Con tôi đồng ý về việc thỏa thuận nuôi con chung như chị Ng trình bày, con tôi không có ý kiến gì và không đề nghị Tòa án giải quyết.
  • + Về tài sản chung: Không có.
  • + Về công nợ chung: Con tôi (S) trình bày chị Ng có nợ anh S số tiền là 4.700USD. Anh S đề nghị chị Ng trả cho anh S số tiền này. Đây là số tiền anh S vay cho chị Ng đi nước ngoài. Vì là vợ chồng nên anh S không có giấy vay nợ mà anh S chỉ đưa tay số tiền này. Tôi là người trực tiếp rút tiền và đưa tận tay chị Ng số tiền là 3000USD.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị Ng là người Việt Nam, hiện đang sống và làm việc tại Việt Nam có đơn xin ly hôn và yêu cầu giải quyết nuôi con chung đối với anh Nguyễn Văn S. Bị đơn anh Nguyễn Văn S là người Việt Nam, có hộ khẩu thường trú tại thôn ĐC, xã ĐH, huyện YT, tỉnh BG nhưng đang cư trú ở nước ngoài không có địa chỉ cụ thể. Căn cứ công văn số: 11577/QLXNC-P5 ngày 17/7/2020 của Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an thì anh Nguyễn Văn S đã xuất cảnh ra nước ngoài ngày 01/4/2015, chưa thấy thông tin nhập cảnh về Việt Nam; không có thông tin địa chỉ nước đến, địa chỉ ở nước ngoài của anh S. Từ các nội dung trên, HĐXX xác định: về quan hệ pháp luật đây là vụ án “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1, Điều 28- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; về thẩm quyền: do có đương sự ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 2, Điều 123- Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3, Điều 35; điểm c, khoản 1, Điều 37- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 53; khoản 1, Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; khoản 2, Điều 123- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1, Điều 28; khoản 3, Điều 35; điểm c, khoản 1, Điều 37; khoản 4, Điều 147; điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 3, Điều 228; điểm b, khoản 1, Điều 238; Điều 271; Điều 273; khoản 2, Điều 479- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a, khoản 5, điểm a, khoản 6, Điều 27- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ng được ly hôn anh Nguyễn Văn S.
  2. Về con chung:
    • Giao con chung là cháu Nguyễn Văn Q1, sinh ngày 19/12/2006 cho anh Nguyễn Văn S nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
    • Giao con chung là cháu Nguyễn Văn Q2, sinh ngày 19/3/2012 cho chị Nguyễn Thị Ng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
    • Về cấp dưỡng nuôi con chung không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ng phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0000773 ngày 27/7/2020 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp Cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã ĐH, huyện YT;
  • - Cổng thông tin điện tử TANDTC;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Ong Thân Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 106/2020/HNGĐ-ST ngày 13/11/2020 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 106/2020/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/11/2020
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị Nguyễn Thị Ng trình bày: Tôi và anh S có được tự do tìm hiểu và chúng tôi được sự nhất trí của hai bên gia đình đã tự nguyện kết hôn với nhau, đăng kí kết hôn ngày 02/12/2005 tại UBND xã ĐH, huyện YT, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn vợ chông tôi chung sống với bình thường, thỉnh thoảng vợ chồng có xảy ra cãi vã, nguyên nhân là do vợ chồng tôi không hợp nhau về mọi mặt, vợ chồng không có tiếng nói chung, hôn nhân không được hạnh phúc nhưng chúng tôi vẫn cố gắng chung sống để nuôi dạy con. Đến năm 2013 tôi đi lao động tại Đài Loan, trong thời gian tôi đi lao động thì vợ chồng tôi vẫn liên lạc với nhau và đến năm 2015 tôi và gia đình đã lo cho anh S đi lao động tại Đài Loan đến đầu năm 2016 tôi hết hạn hợp đồng về nước. Chúng tôi không còn tình cảm với nhau nữa nên chúng tôi đã sống ly thân, tôi và anh S đã thống nhất với nhau qua điện thoại tôi về nhà bố mẹ đẻ tôi sống và tôi sẽ nuôi cháu Q2, còn cháu Q1 thì để cho anh S nuôi. Nay chị xin ly hôn và không yêu cầu giải quyết nuôi con chung.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger