|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 105A/2025/HS-ST Ngày 27 tháng 5 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Đình Hưng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Huệ
2. Ông Nguyễn Văn Tư.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Thiện – Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Phạm Công Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 108/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2025. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2025/HSST ngày 15 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Dương Văn C, sinh năm 1995; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn T, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Bố: Dương Văn L, sinh năm 1963 (đã chết); Mẹ: Lê Thị M, sinh năm 1965; Vợ con: Chưa; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- + Bản án hình sự sơ thẩm số 87 ngày 24/11/2017 của Toà án nhân dân huyện Yên Dũng (nay là thành phố B) xử phạt 07 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; đã chấp hành xong toàn bộ bản án và được xoá án tích.
- + Bản án hình sự sơ thẩm số 09 ngày 15/3/2019 của Toà án nhân dân huyện Yên Dũng (nay là thành phố B) xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản tài sản”; đã chấp hành xong toàn bộ bản án và được xoá án tích.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2025, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, (Có mặt tại phiên tòa).
2. Họ và tên: Nguyễn Văn B, sinh năm 1992; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn T, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Bố: Nguyễn Đình L1, sinh năm 1970; Mẹ: Lê Thị L2, sinh năm 1970; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là thứ hai; Vợ con: Chưa; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2025, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, (Có mặt tại phiên tòa).
* Người chứng kiến:
- - Bà Lê Thị M, sinh năm 1965, (Vắng mặt).
- - Anh Đào Văn T, sinh năm 1988, (Vắng mặt).
Đều địa chỉ: Thôn T, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Dương Văn C, sinh năm 1995, trú tại thôn T, xã Đ, thành phố B là anh họ Nguyễn Văn B, sinh năm 1992 ở cùng thôn. Hai người đều sử dụng chất ma túy.
Khoảng 12 giờ ngày 18/01/2025, Cao đi nhờ xe máy của một người đàn ông không quen biết đến thành phố B mục đích mua ma túy để sử dụng. Khi đi đến cầu sắt thuộc phường M, thành phố B, C xuống xe và đi bộ đến khu vực gầm cầu. Theo C khai gặp và hỏi mua của một người đàn ông không quen biết 200.000 đồng ma túy heroin và 50.000 đồng ma túy ngựa thì người này đồng ý. Cao đưa cho người này 250.000 đồng. Người đàn ông nhận tiền rồi điều khiển xe mô tô đi một lúc sau quay lại đưa cho C 01 túi nilon bên trong đựng ma túy heroin và 01 mảnh viên ma túy ngựa. C cầm túi ma túy và thuê xe ôm đi về nhà cất giấu gói ma túy trên ở giường trong phòng ngủ.
Buổi sáng ngày 19/01/2025 sau khi thức dậy, Cao lấy mảnh ma túy ngựa ra khỏi túi nilon bẻ 1 phần rồi cho vào 01 túi nilon khác. Phần ma túy ngựa còn lại, C dùng móng tay dằm nhỏ rồi trộn với heroin trong túi ma túy ban đầu sau đó lấy 1 ít ma túy ra sử dụng. Cao để túi đựng ma túy vừa trộn và túi ma túy đựng mảnh viên ngựa ở trên giường. Khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Văn B đi bộ sang nhà Cao chơi thì thấy C đang ngồi trên giường và sử dụng ma túy, trên giường để 02 túi nilon chứa ma túy. B hỏi xin Cao số ma túy này để sử dụng thì C đồng ý và đưa cho B 02 túi ma túy trên. B cất giấu 02 túi ma tuý vào túi quần bên phải đang mặc. Khi B vừa cất ma tuý xong thì tổ công tác Công an xã Đ phối hợp với Đội CSĐT tội phạm về ma túy Công an thành phố B kiểm tra hành chính nhà ở của C phát hiện B tàng trữ ma túy. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với B và C về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, thu giữ tang vật gồm:
- - 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, bên trong đựng chất bột màu trắng và màu hồng đỏ; 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, bên trong đựng mảnh viên nén màu hồng đỏ - tất cả đều nghi là ma túy được phát hiện, thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của Nguyễn Văn B đang mặc được cho vào phong bì thư niêm phong ký hiệu "QT".
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S màu đen; số IMEI 1: 865116055395378; số IMEI 2: 865116055397713 (bút lục 44-45).
Kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể của Dương Văn C và Nguyễn Văn B đều dương tính với ma tuý MOR, MET. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Dương Văn C không phát hiện, thu giữ tang vật gì liên quan đến hành vi phạm tội.
Cơ quan điều tra trưng cầu giám định xác định số tang vật nghi là ma túy thu giữ của Nguyễn Văn B khi bắt quả tang.
Kết luận giám định số 213/KL-KTHS ngày 24/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- Trong 01 (một) phong bì ký hiệu "QT" được niêm phong gửi giám định:
- - Chất cục bột màu trắng và màu hồng đỏ được đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, đều là ma tuý, loại Heroin, Methamphetamine, tổng khối lượng 0,164 gam.
- - Các mảnh viên nén màu hồng đỏ được đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa đều là ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,050 gam (bút lục 48).
Ngày 19/01/2025, Cơ quan điều tra cho C nhận dạng bản ảnh vật chứng ma túy thu giữ của B. Kết quả Cao xác định đây là số ma túy do C mua về cất giấu tại nhà ngày 18/01/2025 để sử dụng và cho B số ma túy trên vào sáng ngày 19/01/2025 thì bị phát hiện bắt quả tang (bút lục 72-75).
Ngày 14/4/2025, Cơ quan điều tra cho Dương Văn C và Nguyễn Văn B thực nghiệm điều tra. Kết quả C thực hiện động tác lấy ma túy trong túi nilon, dùng tay bẻ 1 phần viên ma túy ngựa đút vào 01 túi nilon, dùng móng tay dằm nhỏ ma túy ngựa trộn lẫn với heroin và lấy 1 ít ra sử dụng; C cầm 02 túi nilon đựng ma túy đưa cho B. B thực hiện động tác nhận 02 túi ma túy và đút vào túi quần bên phải phía trước đang mặc (bút lục 56-64).
Cơ quan điều tra cho C và B quan sát bản ảnh để xác định vị trí C lấy ma túy đưa cho B. Các bị can đều xác nhận C lấy 02 túi ma túy ở phía cuối giường trong phòng ngủ đưa cho B (bút lục 66-71).
Trong quá trình điều tra, các bị can Dương Văn C, Nguyễn Văn B khai nhận thành khẩn hành vi phạm tội như nêu trên.
Về nguồn gốc số ma túy: Theo C khai mua của một người đàn ông không quen biết tại cầu S, thành phố B vào ngày 18/01/2025 nên Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra, xác minh làm rõ.
Đối với bà Lê Thị M là ở cùng với Dương Văn C nhưng không biết Cao tàng T1 trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng số ma tuý hoàn lại sau giám định, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S màu đen để xử lý theo quy định.
Tại Cáo trạng số 100/CT-VKS ngày 21/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố Dương Văn C, Nguyễn Văn B về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
-Bị cáo Dương Văn C trình bày tại phiên tòa: Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là hoàn toàn tự nguyện không bị ai ép buộc, mớm cung, dùng nhục hình. Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trong bản cáo trạng. Bị cáo giữ nguyên lời khai đã khai tại cơ quan điều tra. Viện kiểm sát truy tố về tội danh, điều luật như trên là không oan, đúng người, đúng tội. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo bị thu giữ 01 chiếc điện thoại di động OPPO, chiếc điện thoại này không liên quan đến hành vi phạm tội nên cho bị cáo xin lại.
-Bị cáo Nguyễn Văn B trình bày tại phiên tòa: Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là hoàn toàn tự nguyện không bị ai ép buộc, mớm cung, dùng nhục hình. Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trong bản cáo trạng. Bị cáo giữ nguyên lời khai đã khai tại cơ quan điều tra. Viện kiểm sát truy tố về tội danh, điều luật như trên là không oan, đúng người, đúng tội. Bị cáo B có tham gia quân ngũ và có ông là Nguyễn Văn T2 được tặng kỷ niệm chương chiến sỹ T.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Dương Văn C từ 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng đến 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 19/01/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo Dương Văn C.
- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 19/01/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo Nguyễn Văn B.
* Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định của P, công an tỉnh B.
- - Trả lại cho bị cáo Dương Văn C 01 điện thoại di động nhãn hiện OPPO A3S màu đen, đã qua sử dụng, số Imei 1: 865116055395378; SỐ I 2: 865116055397713 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- * Án phí: Bị cáo Dương Văn C, Nguyễn Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo: Không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, cảm thấy rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
- [2] Về sự có mặt của đương sự: Người chứng kiến được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của những người này nên căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt họ.
- [3] Về hành vi: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 18/01/2025, Dương Văn C đi đến cầu sắt thuộc phường M, thành phố B mua của người không quen biết 01 túi nilon chứa ma tuý heroine và 01 mảnh viên ma tuý ngựa với giá 250.000 đồng rồi mang về nhà ở thôn T, xã Đ, thành phố B cất giấu mục đích để sử dụng. Buổi sáng ngày 19/01/2025, Cao lấy mảnh viên ma túy ngựa ra khỏi túi nilon bẻ 1 phần rồi cho vào 01 túi nilon khác, phần ma túy ngựa còn lại được Cao dằm nhỏ trộn lẫn với ma túy heroin và tự sử dụng. Khoảng 7 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Văn B đến nhà Cao chơi được C cho 02 túi ma túy để để sử dụng. B đút 02 túi ma túy vào quần đang mặc. Ngay sau đó, Công an thành phố B kiểm tra hành chính nơi ở của C đã thu giữ ma túy trên người B sau đó lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với B và C về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Kết quả giám định xác định B và Cao tàng trữ 0,214 gam ma túy, loại Heroin và Methamphetamine.
Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là sai, nhưng vẫn thực hiện, lỗi của bị cáo là cố ý. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm sự độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước. Do vậy, Bản cáo trạng số 100/CT-VKS ngày 21/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo Dương Văn C, Nguyễn Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
- [4] Về nhân thân: Bị cáo Dương Văn C là người có nhân thân xấu, bị cáo Nguyễn Văn B là người có nhân thân tốt.
- [5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- [6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra, các bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do vậy cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Văn B đã có thời gian tham gia quân ngũ, có ông là Nguyễn Văn T2 được tặng kỷ niệm chương chiến sỹ Trường Sơn nên bị cáo B được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- [7] Về tính chất hành vi phạm tội và hình phạt: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm sự độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự xã hội, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, bị xã hội lên án. Hành vi của các bị cáo là nguyên nhân kéo theo nhiều tội phạm nguy hiểm khác như nghiện hút, trộm cắp tài sản, cướp tài sản.... là căn nguyên của căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS...là nguyên nhân lớn ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình, an toàn trật tự công cộng của xã hội. Các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy cần phải có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra để có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung như đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang là phù hợp.
- [8] Về hình phạt bổ sung: Đối với các bị cáo C, B là người nghiện ma túy, không có việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- [9] Về vật chứng:
- - Đối với: 01 phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định của P, công an tỉnh B là ma túy hoàn lại sau giám định và là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiện OPPO A3S màu đen, đã qua sử dụng, số Imei 1: 865116055395378; Số Imei 2: 865116055397713 là tài sản cá nhân của bị cáo C không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Dương Văn C nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- [10] Về án phí: Các bị cáo Dương Văn C, Nguyễn Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Ngoài ra, cần tạm giam các bị cáo Dương Văn C, Nguyễn Văn B 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án và áp dụng các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên quyền kháng cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Dương Văn C.
- Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn B.
- Xử
- Xử phạt bị cáo Dương Văn C 01 (Một) năm 05 (Năm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 19/01/2025.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B .01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 19/01/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định của P, công an tỉnh B.
- - Trả lại cho bị cáo Dương Văn C 01 điện thoại di động nhãn hiện OPPO A3S màu đen, đã qua sử dụng, số Imei 1: 865116055395378; Số I 2: 865116055397713 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Bị cáo Dương Văn C, Nguyễn Văn B mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự
- Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Đình Hưng |
7
Bản án số 105A/2025/HS-ST ngày 27/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự)
- Số bản án: 105A/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Văn C và Nguyễn Văn B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
