Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH CHÁNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1058/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 09-12-2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Nga
  2. Bà Phan Thị Dòn

Thư ký phiên tòa: Ông Đào Văn Long - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh: Thuộc trường hợp Viện kiểm sát không tham gia.

Ngày 09 tháng 12 năm 2024 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 605/2024/TLST-HNGĐ ngày ngày 22 tháng 7 năm 2024 việc "Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 765/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2024 Quyết định hoãn phiên tòa số: 771/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Bùi Thị N, sinh năm 1986
  2. Địa chỉ: G1/10B, ấp 7, xã Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh, TP. HCM

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Long A, sinh năm 1983
  4. Địa chỉ: G, ấp G, xã L, huyện B, TP HCM

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn – Bà Bùi Thị N trình bày:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông A chung sống vợ chồng có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 71/2008 ngày 12/5/2008 của Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, TP HCM. Thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nhiều từ năm 2023, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không còn hòa hợp, bất đồng quan điểm, tôi không còn tình cảm vợ chồng. Nay tôi thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tôi yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
  • - Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Bùi An K, sinh năm 2008 và Nguyễn Bùi Ngọc D, sinh năm 2009. Khi ly hôn, tôi yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ K và trẻ D, không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con chung.
  • - Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, nguyên đơn – Bà Bùi Thị N vắng mặt (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

* Bị đơn – Ông Nguyễn Long A vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Bùi Thị N khởi kiện xin ly hôn với ông Nguyễn Long A1 là tranh chấp về ly hôn. Ông Nguyễn Long A cư trú tại huyện B. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.

[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Ông Nguyễn Long A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử nhưng vắng mặt. Bà Bùi Thị N vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị N và ông Nguyễn Long A đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 71/2008 ngày 12/5/2018 của Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, TP HCM đó, quan hệ hôn nhân giữa bà Bùi Thị N và ông Nguyễn L An là vợ chồng hợp pháp.

[4] Theo bà Bùi Thị N xác định:

Vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn từ đầu năm 2020, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không còn hòa hợp, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã, xúc phạm danh dự, nhân phẩm nhau, không còn yêu thương, tôn trọng, chăm sóc lẫn nhau.

[5] Tòa án đã tiến hành thủ tục hòa giải giữa Bà Bùi Thị N và ông Nguyễn Long A nhưng không tiến hành hòa giải được.

[6] Căn cứ vào Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:

“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng”.

[7] Căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:

“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án quyết định cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.

[8] Xét thấy, vợ chồng không còn yêu thương nhau, tôn trọng, chăm sóc lẫn nhau là vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho mục đích của hôn nhân không đạt được.

Xét quyền lợi về mọi mặt của con, hiện nay con Nguyễn Bùi Ngọc D, sinh ngày: 14/8/2009 và Nguyễn Bùi An K, sinh ngày 27/7/2008 sống chung với bà N và ông A. Con chung Nguyễn Bùi Ngọc D, sinh ngày: 14/8/2009 và Nguyễn Bùi An K, sinh ngày 27/7/2008 có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Vì bà N là người chăm sóc hai cháu nhiều hơn.

[9] Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị N

Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị N được ly hôn với ông Nguyễn Long A

(theo Giấy chứng nhận kết hôn số 71/2008 ngày 12/5/2018 của Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, TP HCM

Về con chung: Bà Bùi Thị N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con Nguyễn Bùi An K, sinh ngày 27/7/2008 và Nguyễn Bùi Ngọc D, sinh ngày: 14/8/2009 đến trưởng thành. Bà N không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà Bùi Thị N xác định không có không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về nợ chung: Bà Bùi Thị N xác định không có không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[10] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Bùi Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn theo Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo nghị quyết, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0005722 ngày 16/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh. Bà Bùi Thị N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b Khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 19, Điều 51, Điều 52, Điều 53, Điều 54, Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo nghị quyết,

Xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Bà Bùi Thị N
  2. Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị N được ly hôn với Ông Nguyễn Long A

    (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 71/2008 ngày 12/5/2018 của Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, TP HCM

    Về con chung: Bà Bùi Thị N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con Nguyễn Bùi An K, sinh ngày 27/7/2008 và Nguyễn Bùi Ngọc D, sinh ngày: 14/8/2009 đến trưởng thành. Bà N không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con..

    Cha mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.

    Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    Vì lợi ích con chung, sau này các đương sự đều có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

    Về tài sản chung: Bà Bùi Thị N xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

    Về nợ chung: Bà Bùi Thị N xác định không có không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  4. Bà Bùi Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0005722 ngày 16/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh. Bà Bùi Thị N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

  5. Thi hành án tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày bên có quyền có đơn yêu cầu thi hành án. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm thực hiện nghĩa vụ thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  1. Về quyền kháng cáo:

Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND H. Bình Chánh;
  • - Chi cục THADS H. Bình Chánh;
  • - UBND nơi ĐKKH;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT-HS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Ngọc Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1058/2024/HNGĐ-ST ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 1058/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị Ngọc - Nguyễn Long An
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger