TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 1055/2024/HS-PT Ngày 13/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Mười
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đắc Minh
Ông Dương Anh Văn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Thành – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2024, xét xử trực tuyến điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu thành phần tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 810/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo Trần Hữu S, do có Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 138/2024/HS-ST ngày 24/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Bị cáo bị kháng nghị: Trần Hữu S. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không, sinh ngày 26/9/1985 tại tỉnh Hà Nam. Nơi đăng ký thường trú: 2b/86, Khu phố G, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nơi ở hiện tại: Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Thiên chúa. Trình độ học vấn: 09/12. Nghề nghiệp: Công nhân. Con ông: Trần Gia T, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1965. Bị cáo là con lớn nhất trong gia đình có hai anh em. Có vợ là bà Nguyễn Thị Huỳnh N, sinh năm 1989. Có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt khẩn cấp và bị tạm giữ từ ngày 05/8/2023, chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 298/LTG-CSHS(Đ4) ngày 14/8/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt).
- Người bào chữa theo chỉ định của bị cáo: Luật sư Mai T1 và Luật sư Trần Văn H1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
Trong vụ án này còn có đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, do không có kháng cáo, không bị kháng nghị, nên Tòa án không triệu tập.
Phiên tòa phúc thẩm trực tuyến được tiến hành ở hai điểm cầu. Điểm cầu trung tâm là Phòng xử án của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh gồm có: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát và Luật sư Mai T1, Luật sư Trần Văn H1; Đ cầu thành phần là Phòng xử án tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai gồm có: Bị cáo Trần Hữu S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chị Châu Thị N1, sinh năm 1986, hộ khẩu thường trú: ấp T, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre thuê nhà mở tiệm hớt tóc Nam “Châu Ngân” tại địa chỉ: số nhà G, Tổ E, Khu phố G, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Khoảng tháng 5 năm 2023, chị N1 quen quan hệ tình cảm với Trần Hữu S, sinh năm 1985, hộ khẩu thường trú: Số nhà B, Khu phố G, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Bản thân S là công nhân, đã có vợ và 03 con nhỏ nhưng do ham mê chơi bời dẫn đến nợ nần của nhiều người (không rõ họ tên, địa chỉ), nên S bỏ nhà đi thuê trọ và ở một mình tại địa chỉ: Tổ D, Khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Do muốn có tiền trả nợ, vào khoảng 09 giờ sáng thứ bảy ngày 05/8/2023, S đi bộ từ phòng trọ của S đến tiệm hớt tóc “Châu Ngân” của chị N1, mục đích là để mượn tiền của chị N1 để trả nợ. Đến nơi, S hỏi chị N1 mượn 5.000.000 đồng, chị N1 mở ví ra lấy 2.200.000 đồng đưa cho S và nói “Chỉ còn nhiêu đây có lấy thì cầm, không thì tôi hết rồi”. S cầm 2.200.000 đồng bỏ vào túi quần sau và nhìn thấy trong ví của chị N1 vẫn còn tiền nên đã năn nỉ chị N1 cho mượn thêm, nhưng chị N1 không đồng ý và nói “Ông đưa được cho tôi bao nhiêu mà đòi lấy của tôi”. Nghe vậy, S nói với chị N1 “Trong bóp còn có tiền sao không đưa, mày thấy tao sa cơ rồi nên quen người khác phải không?”, chị N1 trả lời “Tao quen đầy người chứ đâu phải riêng mình mày” dẫn đến hai bên cãi nhau. S chụp lấy điện thoại hiệu Sam Sung của chị N1 để trên bàn rồi đập điện thoại xuống đất làm vỡ màn hình điện thoại. Chị N1 cũng nhặt điện thoại hiệu Sam Sung của chị N1 lên và tiếp tục đập xuống đất rồi nói với S là “Ông đập thì ông mua lại cho tôi thôi, điện thoại của tôi cả chục triệu đó”. S bực tức đi vào khu vực bếp lấy một con dao Thái Lan cán vàng dài khoảng 22cm để trên kệ đựng chén, đũa và
đi lại chỗ chị N1. Thấy S cầm dao, chị N1 nói “Có giỏi thì đâm đi, tao đâu chỉ quen mình mày, mày biết tao làm nghề gì rồi đấy” thì chị N1 bị S cầm dao đâm một nhát vào ngực. Chị N1 quay người bỏ chạy vào trong bên phòng ngủ và hô lớn “Cướp, cướp” thì bị S đuổi theo dùng dao đâm liên tục khoảng 02 - 03 nhát vào lưng, hông của chị N1 khiến lưỡi dao bị cong và chị N1 nằm gục dưới nền nhà. Sau khi đâm chị N1 xong, S đi ra ngoài phòng hớt tóc lấy chiếc ví da màu đỏ của chị N1 để trên bàn, S bẻ gãy lưỡi con dao bị cong lúc đâm chị N1 và bỏ cán dao, lưỡi dao vào trong chiếc ví rồi S nhặt chiếc điện thoại S1 bị bể của N1 bỏ vào trong ví. Sau đó, S đóng cánh cửa tiệm hớt tóc lại và đi bộ ra ngoài đường đón xe grap về phòng trọ của S. Khoảng 11 giờ cùng ngày, S cởi bộ quần áo đang mặc trên người trong lúc gây án (quần dài màu xanh, áo thun ngắn tay màu xanh) và lấy con dao gây án (phần cán và lưỡi dao) ở trong ví ra bỏ vào trong chậu giặt và xả nước ngâm. S kiểm tra trong ví của chị N1 chiếm đoạt số tiền là 1.500.000 đồng cùng một số tờ tiền ngoại tệ và các giấy tờ, đồ vật cá nhân của chị N1. Sau đó, S trả nợ cho đối tượng Tuấn C (chưa rõ nhân thân, lai lịch) số tiền 4.400.000 đồng (bao gồm tiền lấy được của chị N1 và tiền của S). Ngày 06/8/2023, Trần Hữu S bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ bắt giữ.
Quá trình điều tra, bị can Trần Hữu S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
- Tại Bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 1740/KL-KTHS ngày 11/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận nguyên nhân tử vong của Châu Thị N1 như sau:
“1. Các kết quả chính: Vết rách da, cơ ngực trái, rãnh thương trước ra sau, xuyên vào lồng ngực. Rách khe liên sườn 2-3 bên trái. Rách, tụ máu mặt trước bao màng ngoài tim, rách gốc động mạch chủ. Vết rách da, cơ hông trái, rãnh thương từ trái sang phải, xuyên vào trong lồng ngực. Rách tụ máu khe liên sườn 4-5 bên trái. Rách thủy trên phổi trái mặt bên.
2. Nguyên nhân tử vong: Sốc mất máu do đa vết thương, rách gốc động mạch chủ, rách phổi.
3. Hung khí: Vật sắc nhọn (một mặt cắt).
4. Cơ chế hình thành thương tích: Nạn nhân bị vật sắc nhọn tác động trực tiếp vào ngực, lưng gây ra rách gốc động mạch chủ, rách phổi dẫn đến mất máu và tử vong”.
- Tại Bản Kết luận giám định pháp y số 7218/KL-KTHS ngày 25/12/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận về kiểu gen trên các vật chứng thu giữ được như sau: “Dấu vết màu nâu ký hiệu A1 và A2 là máu người. Phân tích được 01 kiểu gen nữ từ các dấu vết này trùng với kiểu gen của tử thi Châu Thị N1”.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn T2 (đại diện gia đình người bị hại Châu Thị N1) yêu cầu bị can Trần Hữu S bồi thường số tiền 150.000.000 đồng chi phí mai táng và tổn thất tinh thần, tiền trợ cấp nuôi 02 người con nhỏ của chị Châu Thị N1 (cháu Nguyễn Ánh T3, sinh năm 2009 và cháu Nguyễn Quốc T4, sinh năm 2013 đến khi trưởng thành) theo quy định của pháp luật. Hiện bị can chưa bồi thường.
Tại bản Cáo trạng số 117/CT-VKS-P2 ngày 27/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo về tội “Giết người” quy định tại điểm e, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự; tội “Cướp tài sản” quy định tại khoản 1 điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự..
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 138/2024/HS-ST ngày 24/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã tuyên xử:
Căn cứ vào điểm e, n khoản 1 Điều 123; điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Hữu S phạm tội “Giết người” và “Cướp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trần Hữu S mức án Chung thân về tội “Giết người” và 07 (bảy) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là Chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày 05/8/2023.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan đến trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm,
Ngày 26/7/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 3785/QĐ-VKS-P2 kháng nghị phần hình phạt của bản án sơ thẩm, đề nghị tăng hình phạt từ tù chung thân sang tử hình đối với bị cáo Trần Hữu S về tội “Giết người”.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, vẫn giữ nguyên quyết định kháng nghị, theo hướng tăng hình phạt đối với bị cáo Trần Hữu S.
Bị cáo Trần Hữu S đồng ý với nội dung quyết định án sơ thẩm, bị cáo không kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng nghị, giữ nguyên quyết định của án sơ thẩm.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án cho rằng:
- Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đầy đủ theo qui định của Bộ luật tố tụng Hình sự 2015, những người tham gia phiên tòa cũng đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo luật định.
- Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phân tích về tính chất của vụ án và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Trần Hữu S, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 3785/QĐ-VKS-P2 ngày 26/7/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng tăng hình phạt đối với bị cáo Trần Hữu S mức án Chung thân sang Tử hình về tội “Giết người”.
Các Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Hữu S có quan điểm: Thống nhất với hành vi, tội danh, điều khoản của Bộ luật Hình sự mà Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã xử đối với bị cáo. Bị cáo không có ý thức mong muốn tước đoạt mạng sống bị hại, mà chỉ nhằm để cướp tài sản của bị hại. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử bị cáo Trần Hữu S với mức án tù Chung thân là có căn cứ, phù hợp với tính chất mức độ của hành vi gây ra. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo có tác động gia đình nộp 20 triệu đồng tiền khắc phục hậu quả, có 3 con còn nhỏ, gia đình có người có công với cách mạng. Như vậy, bị cáo có ba tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s, x khoản 1 Điều 51 nên đề nghị Hội đồng xét xử bác Quyết định kháng nghị giữ nguyên quyết định án sơ thẩm.
Bị cáo Trần Hữu S thống nhất với ý kiến Luật sư, và nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giữ nguyên án sơ thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, các vị Luật sư.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
- Hội đồng xét xử nhận thấy cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Quyết định kháng nghị phúc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai trong hạn luật định và hợp lệ được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án và xét Quyết định kháng nghị Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
[2.1] Hội đồng xét xử xét thấy tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trần Hữu S thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung án sơ thẩm đã nêu. Xét về hành vi phạm tội của bị cáo Trần Hữu S như khai nhận tại phiên tòa là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, thể hiện:
Xuất phát từ việc bị cáo Trần Hữu S hỏi mượn tiền bị hại Châu Kim N1, dẫn đến giữa bị cáo với bị hại xảy ra mâu thuẫn. Mặc dù, mâu thuẫn không lớn nhưng bị cáo S đã có hành vi đập điện thoại của chị N1, rồi sử dụng dao Thái lan đâm liên tục nhiều nhát vào ngực, lưng và hông của chị N1 khiến chị N1 tử vong tại chỗ. Sau khi gây án xong, bị cáo S đã lấy chiếc ví da của chị N1 bên trong có số tiền 1.500.000 đồng, 11 tờ tiền ngoại tệ (nhiều mệnh giá khác nhau) có giá trị quy đổi ra tiền Việt Nam đồng là 167.181 đồng. Như vậy, tổng số tiền mà bị cáo S cướp của chị N1 là 1.667.181 đồng và 01 chiếc điện thoại di động hiệu S1.
[2.2] Đối chiếu với trường hợp của bị cáo thì thấy rằng, hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” và tội “Cướp tài sản”; tội phạm được quy định tại Điều 123 và Điều 168 của Bộ luật Hình sự.
Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm e, n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự để xét xử bị cáo Trần Hữu S là đúng với khung hình phạt. Tuy nhiên, khi quyết định mức án tù Chung thân về tội “Giết người” là nhẹ, chưa đúng với tính chất, mức độ và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
[2.3] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo Trần Hữu S là đặc biệt nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, mất hết tính người, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống, nhưng bị cáo đã dùng dao đâm nhiều nhát vào vùng trọng yếu trên cơ thể bị hại, bỏ mặc cho hậu quả xảy ra là nhằm tước đoạt đi sinh mạng của bị hại, rồi chiếm đoạt tài sản của bị hại thuộc trường hợp “Giết người” có tính chất côn đồ theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự. Mặc dù, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo có tác động gia đình nộp 20 triệu đồng tiền khắc phục hậu quả là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, hành vi phạm tội của bị cáo cùng một lúc xâm phạm hai khách thể được pháp luật bảo vệ, bị cáo phạm tội thể hiện tính chất côn đồ, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân, do đó cần phải loại trừ vĩnh viễn bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, đồng thời mới đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[2.4] Xét lời bào chữa của các luật sư bảo vệ cho bị cáo Trần Hữu S là không có căn cứ, nên không được chấp nhận.
[3] Hội đồng xét xử thống nhất theo đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa chấp nhận Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai. Sửa bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai về phần hình phạt của tội “Giết người” đối với bị cáo Trần Hữu S theo hướng tăng hình phạt từ tù chung thân sang tử hình.
[4] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 3785/QĐ-VKS-P2 ngày 26/7/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 138/2024/HS-ST ngày 24/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai về trách nhiệm hình sự tăng hình phạt đối với bị cáo Trần Hữu S.
Tuyên xử:
1. Căn cứ vào điểm e, n khoản 1 Điều 123; Điều 40; điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Trần Hữu S phạm tội “Giết người” và “Cướp tài sản”;
Xử phạt bị cáo Trần Hữu S mức án Tử hình về tội “Giết người” và 07 (bảy) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Buộc bị cáo phải chấp hành chung hình phạt của hai tội là Tử hình.
2. Trong thời hạn 07 (bảy) ngày, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo Trần Hữu S được gửi đơn lên Chủ tịch N2 để xin ân giảm án tử hình.
3. Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Hữu S để đảm bảo thi hành án.
4. Về bồi thường thiệt hại: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Trần Hữu S (Trần Gia T nộp thay) nộp số tiền 20.000.000 đồng theo Biên lai số 0000831 ngày 08/11/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai để đảm bảo cho việc thi hành án.
5. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Văn Mười |
Bản án số 1055/2024/HS-PT ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (giết người và cướp tài sản)
- Số bản án: 1055/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Giết người và Cướp tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng nghị tăng hình phạt
