Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1054/2024/DS-ST

Ngày: 21-11-2024

V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Huệ

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Châu Thị Lệ
  2. Ông Võ Thành Viên

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thảo Nguyên là Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2024 tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 752/2023/TLST-DS ngày 04 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 621/2024/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 621/20204/QĐST-DS ngày 30 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S; địa chỉ: Số B N, Phường H, Quận C, Tp

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Lê Trung K, sinh năm 1991; địa chỉ: Số B đường T, Phường A, quận T, Tp. (Giấy ủy quyền lập ngày 22/11/2023).

- Bị đơn:

  1. Ông Lâm Quang T, sinh năm 1979
  2. Bà Bùi Thị Thảo N, sinh năm 1984

Cùng địa chỉ: A đường P, Phường A, quận G, Tp .

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1999
  2. Bà Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 2003
  3. Ông Nguyễn Đăng K1, sinh năm 1999
  4. Bà Trần Bích L, sinh năm 1963
  5. Bà Hàng Thụy Vân T2, sinh năm 1990
  6. Bà Hàng Thụy Khánh V, sinh năm 1996
  7. Ông Hàng Kim V1, sinh năm 1963
  8. Ông Hàng Anh D, sinh năm 1998

Cùng địa chỉ: Số B đường N, Phường A, quận G, Tp.HM

Thời gian mở phiên tòa: 08 giờ 30 phút, ngày 30 tháng 10 năm 2024

Địa điểm mở phiên tòa: Phòng xét xử dân sự – Tòa án nhân dân quận Gò Vấp.

(Phiên tòa có mặt ông K; vắng mặt ông T, bà N, bà L, bà V, ông D, ông V1. Ông K1, bà H, bà T1 có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 22/11/2023, bản tự khai và tại phiên tòa đại diện nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh G – PGD Phan Huy Í cho ông Lâm Quang T và bà Bùi Thị Thảo N vay vốn theo các hợp đồng tín dụng sau:

1/ Hợp đồng tín dụng số: [...] ngày 13/01/2023 số tiền vay 3.200.000.000 đồng, mục đích là phát triển kinh tế gia đình, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất 03 tháng đầu là 13.5%/năm, từ tháng thứ 4 trở đi lãi suất được điều chỉnh bằng LSCS tương ứng theo kỳ hạn vay được S1 niêm yết tại www.S1.com.vnđiểm điều chỉnh cộng biên độ 3.9%/năm, định kỳ điều chỉnh 03 tháng/lần. Phương thức trả nợ là trả lãi hàng tháng và trả vốn cuối kỳ, kỳ trả lãi vào ngày 16 hàng tháng.

Để bảo đảm cho khoản vay của Hợp đồng tín dụng nêu trên ông T, bà N đã thế chấp cho Ngân hàng toàn bộ quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 59, tờ bản đồ số 233, địa chỉ: Số B đường N, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS11434 do Sở T3 cấp ngày 24/7/2018 cho ông Lâm Quang T và bà Bùi Thị Thảo N theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 03/2023/TC-CNGV-PGDPHI ngày 13/01/2023 đã được công chứng tại Phòng C, số công chứng 00621 quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD và đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H – Chi nhánh quận G.

Căn cứ vào nội dung hợp đồng Ngân hàng đã giải ngân toàn bộ số tiền vay 3.200.000.000 đồng cho ông T, bà N theo giấy nhận nợ số 01/LD2301600475 ngày 16/01/2023 số tiền giải ngân là 3.200.000.000 đồng.

2/ Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân:

  • Ông Lâm Quang T: Số hợp đồng 2493480 ngày 12/01/2023, hạn mức 100.000.000 đồng.
  • Bà Bùi Thị Thảo N: Số hợp đồng 2493516 ngày 12/01/2023, hạn mức 100.000.000 đồng.

Quá trình thực hiện hợp đồng, đối với khoản vay 3.200.000.000 đồng thì ông T, bà N có nghĩa vụ trả nợ lãi vay vào ngày 16 hàng tháng và trả gốc cuối kỳ nhưng ông T, bà N chỉ trả lãi được đến tháng 9/2023 rồi ngưng không thanh toán, như vậy ông T, bà N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 16/9/2023 gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng.

Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả số tiền nợ tính đến ngày 21/11/2024 là 4.245.858.476 đồng, cụ thể như sau:

  1. Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 13/01/2023: Nợ gốc là 3.200.000.000 đồng, lãi quá hạn là 738.297.542 đồng.
  2. Thẻ tín dụng: Số hợp đồng 2493480 ngày 12/01/2023: Nợ gốc là 100.000.000 đồng, lãi và phí quá hạn phát sinh là 53.781.406 đồng.
  3. Thẻ tín dụng: Số hợp đồng 2493516 ngày 12/01/2023: Nợ gốc là 100.000.000 đồng, lãi và phí quá hạn phát sinh là 53.779.528 đồng.

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra yêu cầu bị đơn phải trả lãi suất phát sinh theo quy định tại các hợp đồng đã ký kể từ ngày 22/11/2024 cho đến khi bị đơn thanh toán hết toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng.

Trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi các tài sản thế chấp trên để thu hồi nợ.

Hiện nay Ngân hàng đang giữ bản chính các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của tài sản thế chấp. Sau khi ông T, bà N trả hết số nợ trên thì Ngân hàng sẽ trả lại bản chính giấy tờ trên cho ông T, bà N.

Đối với chi phí tố tụng như chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí đo vẽ mà nguyên đơn đã đóng đề nghị bị đơn hoàn lại cho nguyên đơn.

Tại các bản tự khai ngày 25/4/2024 ông Nguyễn Đăng K1, bà Nguyễn Ngọc T1 và bà Nguyễn Thị Thu H là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cùng trình bày:

Ông bà là người thuê nhà số B đường N, Phường A, quận G của ông Lâm Quang T và bà Bùi Thị Thảo N. Trong vụ kiện giữa Ngân hàng TMCP S với ông T, bà N các ông bà không có ý kiến và yêu cầu gì. Trường hợp phát mãi nhà đất nêu trên thì các ông bà đồng ý dọn ra khỏi nhà đất nêu trên.

Ông T, bà N, ông V1, bà L, bà T2, bà V, ông D mặc dù đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập đến tòa lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông T, bà N, ông V1, bà L, bà T2, bà V, ông D không đến nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông T, bà N, ông V1, bà L, bà T2, bà V, ông D về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án. Thời hạn xét xử vi phạm quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về phiên toà sơ thẩm.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên toà hôm nay nguyên đơn, ông K1, bà T1, bà H đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, T, bà N, bà L, bà T2, bà V, ông V1, ông D chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72, Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T, bà N thanh toán tiền nợ gốc và nợ lãi theo các Hợp đồng tín dụng, đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Ông T, bà N cư trú tại quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Về xác định người tham gia tố tụng:

Căn cứ Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số 16016/2023/QĐ-CCTLCC ngày 06/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Công an P, quận G xác minh những người đang thực tế cư trú nhà số B đường N, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh gồm các ông bà: Nguyễn Thị Thu H, Nguyễn Ngọc T1, Nguyễn Đăng K1, Trần Bích L, Hàng Thụy Vân T2, Hàng Thụy Khánh V, Hàng Kim V1 và Hàng Anh D.Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định bà H, bà T1, ông K1, bà L, bà T2, bà V, ông V1, ông D là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

- Về sự vắng mặt của các đương sự: Ông K1, bà H, bà T1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông T, bà N, ông V1, bà L, bà T2, bà V, ông D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông K1, bà H, bà T1, ông T, bà N, ông V1, bà L, bà T2, bà V, ông D theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa ông T, bà N, ông V1, bà L, bà T2, bà V, ông D đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không có lời khai và các tài liệu, chứng cứ giao nộp cho Tòa án để thể hiện sự phản đối yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy ông T, bà N, ông V1, bà L, bà T2, bà V, ông D đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình nên phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử căn cứ các chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp và các tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập để xem xét giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

1. Căn cứ Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 13/01/2023 thể hiện ông T, bà N vay Ngân hàng số tiền 3.200.000.000 đồng, mục đích là phát triển kinh tế gia đình, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất 03 tháng đầu là 13.5%/năm, từ tháng thứ 4 trở đi lãi suất được điều chỉnh bằng LSCS tương ứng theo kỳ hạn vay được S1 niêm yết tại www.S1.com.vnđiểm điều chỉnh cộng biên độ 3.9%/năm, định kỳ điều chỉnh 03 tháng/lần. Phương thức trả nợ là trả lãi hàng tháng và trả vốn cuối kỳ, kỳ trả lãi vào ngày 16 hàng tháng.

Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân cho ông T, bà N số tiền là 3.200.000.000 đồng theo giấy nhận nợ số 01/LD2301600475 ngày 16/01/2023.

Việc xác lập giao dịch tín dụng giữa Ngân hàng và ông T, bà N là phù hợp theo quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Theo thỏa thuận tại Điều 6 của giấy nhận nợ số số 01/LD2301600475 ngày 16/01/2023, ông T, bà N phải thanh toán cho Ngân hàng lãi vào ngày 16 hàng tháng và nợ gốc vào ngày 16/01/2024 nhưng ông T, bà N chỉ thanh toán được cho Ngân hàng số tiền nợ lãi đến tháng 9/2023 rồi ngưng không thanh toán nên Ngân hàng chuyển nợ quá hạn từ 16/9/2023.

2. Căn cứ Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số hợp đồng 2493480 ngày 12/01/2023; Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng thương mại cổ phần S; có cơ sở để xác định giữa ông T và Ngân hàng có xác lập giao dịch tín dụng, theo đó Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng cho ông T. với hạn mức sử dụng là 100.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất và phí theo Biểu phí áp dụng chung cho các sản phẩn dịch vụ thẻ cho khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại cổ phần S.

Và Căn cứ Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số hợp đồng 2493516 ngày 12/01/2023; Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng thương mại cổ phần S; có cơ sở để xác định giữa bà N và Ngân hàng có xác lập giao dịch tín dụng, theo đó Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng cho bà N với hạn mức sử dụng là 100.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất và phí theo Biểu phí áp dụng chung cho các sản phẩn dịch vụ thẻ cho khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại cổ phần S.

Việc xác lập giao dịch tín dụng giữa Ngân hàng và ông T, bà N là phù hợp theo quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Theo thỏa thuận tại Điều 19 Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng thương mại cổ phần S có hiệu lực từ ngày 22/4/2021, ông T, bà N phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền đến hạn hoặc số tiền tối thiểu vào trước ngày đến hạn được ghi trong Thông báo giao dịch. Nhưng từ khi kích hoạt thẻ đến nay, ông T, bà N chỉ thanh toán được cho Ngân hàng đến tháng 10/2023 rồi ngưng không thanh toán nữa nên Ngân hàng chuyển nợ quá hạn từ ngày 10/11/2023.

Như vậy ông T, bà N đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận. Do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T, bà N thanh toán số tiền nợ tính đến 21/11/2024 là 4.245.858.476 đồng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại khoản 1 điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về thời hạn thanh toán: Do ông T, bà N vi phạm nghĩa vụ thanh toán làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên nguyên đơn yêu cầu buộc ông T, bà N trả số tiền trên cho nguyên đơn ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Kể từ ngày 22/11/2024 ông T, bà N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông T, bà N phải tiếp tục phải thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Xét yêu cầu phát mãi các tài sản thế chấp trong trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ Hợp đồng thế chấp tài sản số 03/2023/TC-CNGV-PGDPHI ngày 13/01/2023 đã được công chứng tại Phòng C, số công chứng 00621 quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD và đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H – Chi nhánh quận G thì ông T, bà N đã dùng tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của mình là toàn bộ quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 59, tờ bản đồ số 233, địa chỉ: Số B đường N, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS11434 do Sở T3 cấp ngày 24/7/2018 cho ông Lâm Quang T và bà Bùi Thị Thảo N để bảo đảm cho các khoản vay trên của ông T, bà N tại Ngân hàng.

Tại điểm a khoản 1 Điều 6 của Hợp đồng thế chấp tài sản các bên thỏa thuận Ngân hàng được toàn quyền xử lý tài sản bảo đảm mà không phụ thuộc vào ý chí của bên thế chấp trong trường hợp Bên được cấp tín dụng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ được quy định tại hợp đồng tín dụng.

Do đó, nguyên đơn yêu cầu phát mãi quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 59, tờ bản đồ số 233, địa chỉ: Số B đường N, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS11434 do Sở T3 cấp ngày 24/7/2018 thuộc quyền sở hữu của ông Lâm Quang T và bà Bùi Thị Thảo N và theo Bản vẽ hiện trạng nhà của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở T4 lập ngày 11/9/2024 trong trường hợp nếu đến hạn thực hiện nghĩa vụ ông T, bà N không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ là phù hợp với thỏa thuận của các bên trong hợp đồng và phù hợp với quy định tại Điều 299, Điều 325 Bộ luật dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Sau khi ông T, bà N thanh toán hết số tiền nêu trên thì Ngân hàng có trách nhiệm trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất liên quan đến tài sản thế chấp trên cho ông T, bà N.

[3]. Về chi phí tố tụng khác:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải hoàn trả lại cho nguyên đơn chi phí tố tụng gồm chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng, chi phí đo vẽ (lập bản vẽ hiện trạng tài sản thế chấp) là 6.449.719 đồng. Tổng cộng là 11.449.719 đồng theo quy định tại Điều 157, Điều 158 Bộ luật tố tụng dân sự.

[4] Về án phí:

Căn cứ quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên ông T, bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 112.245.858 đồng.

Hoàn tiền tạm nộp án phí cho nguyên đơn.

[5] Về quyền kháng cáo:

- Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp về việc giải quyết vụ án là có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b, g khoản 1 Điều 40, Điều 91, Điều 92, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 299, Điều 325, khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1.1. Buộc ông Lâm Quang T, bà Bùi Thị Thảo N có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền nợ tính đến ngày 21/11/2024 là 4.245.858.476 đồng (Bốn tỷ hai trăm bốn mươi lăm triệu tám trăm năm mươi tám ngàn bốn trăm bảy mươi sáu đồng), cụ thể như sau:

  • Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 13/01/2023: Nợ gốc là 3.200.000.000 đồng, lãi quá hạn là 738.297.542 đồng.
  • Thẻ tín dụng: Số hợp đồng 2493480 ngày 12/01/2023: Nợ gốc là 100.000.000 đồng, lãi và phí quá hạn phát sinh là 53.781.406 đồng.
  • Thẻ tín dụng: Số hợp đồng 2493516 ngày 12/01/2023: Nợ gốc là 100.000.000 đồng, lãi và phí quá hạn phát sinh là 53.779.528 đồng.

Trả ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 22/11/2024 ông T, bà N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông T, bà N phải tiếp tục phải thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Đến hạn trả nợ nêu trên mà ông T, bà N không trả thì Ngân hàng TMCP S được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là toàn bộ quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 59, tờ bản đồ số 233, địa chỉ: Số B đường N, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh theo Bản vẽ hiện trạng nhà của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở T4 lập ngày 11/9/2024 và theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS11434 do Sở T3 cấp ngày 24/7/2018 cho ông Lâm Quang T và bà Bùi Thị Thảo N theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 03/2023/TC-CNGV-PGDPHI ngày 13/01/2023 đã được công chứng tại Phòng C, số công chứng 00621 quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD và đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H – Chi nhánh quận G để thu hồi nợ.

1.2. Buộc các ông bà: Nguyễn Thị Thu H, Nguyễn Ngọc T1, Nguyễn Đăng K1, Trần Bích L, Hàng Thụy Vân T2, Hàng Thụy Khánh V, Hàng Kim V1 và Hàng Anh D và những người thực tế đang cư trú tại nhà đất số B N, phường A, quận G, Thành phố H dọn ra khỏi nhà đất số B N, phường A, quận G, Thành phố H cơ quan Thi hành án thực hiện việc phát mãi tài sản.

1.3. Sau khi ông T, bà N thanh toán hết số tiền nêu trên thì Ngân hàng TMCP S có trách nhiệm trả lại bản chính Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS11434 do Sở T3 cấp ngày 24/7/2018 cho ông T, bà N.

1.4. Ông T, bà N có trách nhiệm hoàn lại cho Ngân hàng TMCP S chi phí tố tụng gồm chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng, chi phí đo vẽ (lập bản vẽ hiện trạng tài sản thế chấp) là 6.449.719 đồng. Tổng cộng là 11.449.719 đồng (Mười một triệu bốn trăm bốn mươi chín ngàn bảy trăm mười chín đồng).

Thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Về án phí:

  • Ông T, bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 112.245.858 đồng (Một trăm mười hai triệu hai trăm bốn mươi lăm ngàn tám trăm năm mươi tám đồng).
  • Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí. H1 lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm nộp án phí là 50.772.470 đồng (Năm mươi triệu bảy trăm bảy mươi hai ngàn bốn trăm bảy mươi đồng) theo biên lai thu tiền số: AA/2023/0013031 ngày 04/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp.

3. Về quyền kháng cáo:

  • Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

- Đương sự;

- VKSND Q. Gò Vấp;

- Lưu VP, Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1054/2024/DS-ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 1054/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger