TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:105/2024/DS-ST
Ngày: 31/7/2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng,
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Diệp Hoàng Giang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lý Hồng Hạnh
2. Ông Lê Hoàng Long
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Võ Tường Vy - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Thới Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Lai tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 273/2022/TLST-DS ngày 20/12/2022, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 404/2024/QĐXXST-DS ngày 11/7/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K
Địa chỉ: số D P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Minh S - Chuyên viên xử lý nợ theo văn bản uỷ quyền số 334/QĐ-NHKL ngày 22/01/2024 (có mặt)
Địa chỉ: số G, Quốc lộ H, ấp V, thị trấn V, huyện V, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn:
1. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1974 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
2. Ông Đặng Văn Bé N (đã chết)
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng:
2.1 Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1974
2.2 Ông Đặng Hữu L, sinh năm 1993 (vắng mặt)
2.3 Ông Đặng Thành Đ, sinh năm 2004 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:
1. Ông Trần Văn T, sinh năm 1973 (có mặt)
Địa chỉ: Khu V, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
2. Ông Nguyễn Thanh V, sinh năm 1971 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ông Đặng Văn Bé N và bà Nguyễn Thị B có ký kết hợp đồng tín dụng từng lần số 253/21/HĐTD/0404-5503 ngày 02/6/2021 với Ngân hàng TMCP K để vay số tiền 500.000.000 đồng, mục đích vay bổ sung vốn vựa lúa, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất 12,6%/năm, lãi suất trậm trả 10%/năm. Để đảm bảo cho hợp đồng tín dụng nêu trên ông N bà B đã ký với Ngân hàng TMCP K hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và/hoặc tài sản gắn liền với đất số 261/18/HDTC-BĐS/0404-3039 ngày 21/5/2018 để thế chấp quyền sử dụng đất có diện tích 12.900 m² thuộc thửa số 936, tờ bản đồ số 9, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 918573; số vào sổ CH01826 do UBND huyện T cấp ngày 12/5/2015, chỉnh lý trang III ngày 21/8/2015 do ông Đặng Văn Bé N đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông N bà B đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng. Tính đến ngày 17/11/2022 ông N bà B còn nợ số tiền 537.405.479 đồng, trong đó gồm nợ gốc 500.000.000 đồng, nợ lãi quá hạn 37.405.479 đồng. Ngày 28/02/2023, bà B có trả nợ gốc cho Ngân hàng số tiền 200.000.000 đồng. Tính đến ngày 20/10/2023, bà B và ông N còn nợ số tiền nợ gốc là 300.000.000 đồng, nợ lãi là 92.920.685 đồng. Tổng cộng là 392.920.685 đồng.
Do ông N đã chết nên Ngân hàng yêu cầu bà Nguyễn Thị B và người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông N là ông Đặng Hữu L, ông Đặng Thành Đ trả số tiền trên và tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán tất nợ. Trường hợp bị đơn không trả được nợ, Ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Bị đơn bà Nguyễn Thị B trình bày: Bà thừa nhận bà và ông N có ký hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp như lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn. Quá trình thực hiện hợp đồng ông bà đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng. Ông Đặng Văn Bé N đã chết vào tháng 6/2021. Hiện tại người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Bé N có bà và các con là L và Đ, các cháu đang đi học, đi làm xin giải quyết vắng mặt. Nay bà đồng ý trả số nợ còn lại như lời trình bày của Ngân hàng nhưng hiện tại hoàn cảnh kinh tế khó khăn chưa trả hết nợ được. Phần đất thế chấp hiện tại đã chuyển nhượng (giấy tay) cho ông V hiện tại ông V đang trực tiếp canh tác thửa đất này.
2
Ông Trần Thanh V1 có yêu cầu độc lập trình bày: Năm 2003, ông có nhận chuyển nhượng phần đất khoảng 10 công tầm lớn từ bà Bé T1 và canh tác từ thời điểm đó đến nay. Đất thuộc thửa 977, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 15/12/2003 số vào sổ cấp giấy 00134/QSDĐ/164/HĐ.2003. Tuy nhiên, vào năm 2006 ông phát hiện nhà nước cấp giấy lộn thửa đất, cụ thể, ông đang canh tác thửa 936 hiện bà B, ông N đang thế chấp ngân hàng còn thửa 977 hiện tại ông T đang canh tác. Nay ông yêu cầu bà B phải trả nợ cho Ngân hàng sau đó giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại cho ông để ông tiến hành xin đổi giấy để được cấp lại đúng thửa đất đã nhận chuyển nhượng.
Ông Trần Văn T có yêu cầu độc lập trình bày: Ông có nhận chuyển nhượng bằng giấy tay từ ông N, bà B diện tích khoảng 10 công tầm lớn, khi nhận chuyển nhượng không biết thửa đất 977 nêu trên do ông V1 đứng tên và hiện đang canh tác trên phần đất này. Nay yêu cầu bà B phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng để ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án buộc bị đơn phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng tổng cộng số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 31/7/2024 là 432.059.589 đồng và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 01/8/2024 đến khi trả hết nợ.
Bà B thống nhất với nợ gốc và lãi như ngân hàng yêu cầu. Tuy nhiên, hiện tại hoàn cảnh kinh tế khó khăn không có khả năng trả nợ.
Trần Thanh V1 rút toàn bộ yêu cầu độc lập về việc yêu cầu thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 977 và 936 và cấp lại đúng thửa đất cho ông.
Ông Trần Văn T rút toàn bộ yêu cầu yêu cầu độc lập về việc yêu cầu bà Bé N và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất 977.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai tại phiên tòa: Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát cho rằng giữa nguyên đơn và bị đơn có ký hợp đồng tín dụng, quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Nay nguyên đơn có yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải có trách nhiệm thanh toán cho ngân hàng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm, tổng cộng là 432.059.589 đồng là có cơ sở để chấp nhận. Trường hợp bị đơn không trả được nợ đề nghị phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Về án phí bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật. Tại phiên toà, ông V1, ông T rút toàn bộ yêu cầu độc lập, việc rút yêu cầu là hoàn toàn tự nguyện nên đề nghị chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
3
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đây là vụ án dân sự, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Căn cứ các Điều 26, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Thới Lai thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
[2] Ông N chết năm 2021, căn cứ Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự, những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông N gồm bà Nguyễn Thị B, anh Đặng Hữu L, anh Đặng Thành Đ. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án triệu tập hợp lệ anh L, anh Đ nhiều lần nhưng vắng mặt, căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
[3] Ông N, bà B có ký kết hợp đồng tín dụng số 253/21/HĐTD/0404-5503 ngày 02/6/2021 với Ngân hàng TMCP K để vay số tiền 500.000.000 đồng, mục đích vay bổ sung vốn vựa lúa, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất 12,6%/năm. Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn đã thanh toán được một phần nợ gốc và lãi sau đó vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm bị đơn chưa thanh toán số tiền nợ gốc cho ngân hàng là 300.000.000 đồng. Bà B thừa nhận số nợ trên, nguyên nhân vi phạm nghĩa vụ trả nợ là do kinh doanh thua lỗ, đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh.
[4] Bị đơn đã thanh toán xong lãi trong hạn. Tính đến thời điểm xét xử số tiền lãi nguyên đơn yêu cầu là 132.059.589 đồng đây là tiền lãi quá hạn và bị đơn còn phải trả lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết từ ngày 01/8/2024 cho đến khi trả hết nợ. Mức lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn, đã được các bên thỏa thuận theo hợp đồng là phù hợp với Luật các tổ chức tính dụng và các quy định pháp luật khác, thời gian bắt đầu tính lãi quá hạn đúng quy định. Do đó, chấp nhận số tiền lãi ngân hàng yêu cầu.
[5] Để đảm bảo cho hợp đồng tín dụng nêu trên, ông N bà B đã ký với Ngân hàng TMCP K hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và/hoặc tài sản gắn liền với đất số 261/18/HDTC-BĐS/0404-3039 ngày 21/5/2018 để thế chấp quyền sử dụng đất có diện tích 12.900 m² thuộc thửa số 936, tờ bản đồ số 9, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 918573, số vào sổ CH01826 do UBND huyện T cấp ngày 12/5/2015, chỉnh lý trang III ngày 21/8/2015 do ông Đặng Văn Bé N đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Hợp đồng thế chấp này tuân thủ đúng quy định pháp luật về hình thức và nội dung, có công chứng và đăng ký thế chấp tại cơ quan có thẩm quyền đúng theo quy định của pháp luật. Việc nguyên đơn yêu cầu phát mãi tài sản khi bị đơn không trả được nợ là phù hợp với thoả thuận trong hợp đồng và đúng quy định pháp luật.
4
[6] Tại phiên toà, ông Trần Thanh V1 rút toàn bộ yêu cầu độc lập về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 977 và 936 và cấp lại đúng thửa đất cho ông. Ông Trần Văn T rút toàn bộ yêu cầu độc lập về việc yêu cầu bà B tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất. Xét thấy, việc rút yêu cầu của ông V1, ông T là hoàn toàn tự nguyện nên chấp nhận.
Từ những phân tích trên, xét thấy có đủ cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của của nguyên đơn.
[7] Về chi phí thẩm định tại chỗ và định giá tài sản số tiền là 10.000.000 đồng, nguyên đơn đã nộp tạm ứng. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn số tiền 10.000.000 đồng.
[8] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 74, Điều 92, Điều 147, Điều 188, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 299, Điều 323 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K.
2. Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị B và anh Đặng Hữu L, anh Đặng Thành Đ và bà Nguyễn Thị B (là những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Đặng Văn Bé N đã chết) có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 31/7/2024 là 432.059.589 đồng (Bốn trăm ba mươi hai triệu, không trăm năm mươi chín nghìn, năm trăm tám mươi chín đồng), trong đó số tiền nợ gốc là 300.000.000 đồng, lãi quá hạn là 132.059.589 đồng và còn phải chịu lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký tính từ ngày 01/8/2024 đến khi trả hết nợ.
3. Trường hợp không trả được nợ, thì nguyên đơn có quyền đề nghị phát mãi tài sản thế chấp (theo hợp đồng thế chấp) để thu hồi nợ là quyền sử dụng đất diện tích 12.900 m² thuộc thửa số 936, tờ bản đồ số 9, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 918573, số vào sổ CH01826 do UBND huyện T cấp ngày 12/5/2015, xác nhận chỉnh lý trang III ngày 21/8/2015 cho ông Đặng Văn Bé N đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
4. Đình chỉ yêu cầu độc lập của ông Trần Văn T và ông Nguyễn Thanh V do đương sự rút yêu cầu.
5
5. Về chi phí thẩm định tại chỗ và định giá tài sản số tiền là 10.000.000 đồng, nguyên đơn đã nộp tạm ứng nên bị đơn và người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông N phải có nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn số tiền 10.000.000 đồng.
6. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà B, ông Đ, ông L phải chịu số tiền là 21.282.500 đồng (Hai mươi mốt triệu, hai trăm tám mươi hai nghìn, năm trăm đồng). Nguyên đơn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã đóng là 12.748.000 (Mười hai triệu, bảy trăm bốn mươi tám ngàn đồng) theo biên lai thu số 0005907 ngày 15/12/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ. Ông Trần Văn T được nhận lại tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0005507 ngày 20/10/2023. Ông Nguyễn Thanh V được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0005509 ngày 20/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có mặt được quyền kháng cáo. Đối với ông Đ, ông L vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Diệp Hoàng Giang |
6
Bản án số 105/2024/DS-ST ngày 31/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 105/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
