|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ R TỈNH BẠC LIÊU Bản án số: 74/2024/HNGĐ-ST Ngày: 09/7/2024 “V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ R, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thành Nhạn
2. Bà Cao Thị Mỹ Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Loan – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã R, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã R, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Châu Hoa Đăng - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã R, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 193/2024/TLST-HNGĐ, 08/4/2024 về việc “tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Bùi Hoàng A, sinh năm 1993
- Địa chỉ: Số nhà X, đường Y, Phường Z, Thành phố V, tỉnh Vĩnh Long
- - Bị đơn: Anh Hồ Chí B, sinh năm 1990
- Địa chỉ: Khóm X, Phường 1, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu
- (Chị A có đơn xin vắng mặt; anh B vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Bùi Hoàng A trình bày: Chị A và anh Hồ Chí B chung sống với nhau như vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào ngày 23/6/2023, tại Ủy ban nhân dân Phường Z, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. Trong thời gian chung sống vợ chồng anh chị có 01 người con là cháu Hồ Sỹ C, sinh ngày 26/6/2023. Trong thời gian chung sống vợ chồng chị A xác định giữa chị và anh B thường xuyên xảy ra cải vã với nhau, quan điểm sống mỗi người khác nhau, cuộc sống vợ chồng không hành phục, lầm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng. Mặc dù hai bên gia đình điều biết và có hòa giải nhưng chị và anh B không hàn gắn được. Giữa chị A và anh B cũng đã sống ly thân từ tháng 7/2023 cho đến nay, nên chị yêu cầu Tòa án cho chị được ly hôn với anh Hiếu. Về con chung khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Hồ Chí B đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án cũng như vắng mặt tại phiên toà xét xử, nên Toà án không thể ghi nhận ý kiến của anh Hiếu.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, xác định đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thực hiện đúng quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định đảm bảo quyền lợi cho những người tham gia tố tụng tại phiên tòa. Từ khi thụ lý đến khi xét xử nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên toà hôm nay nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, còn bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án cũng như đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên toà nhưng vắng không có lý do là chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70 và 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị A được ly hôn với anh B. Về con chung giao 01 người con là cháu Hồ Sỹ C, sinh ngày 26/6/2023 cho chị A được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh B không phải cấp dưỡng nuôi con do chị A không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã R, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị A và anh B tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường Z, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 23/6/2023 theo đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân gia đình, là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Nay chị A khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh B và nuôi con sau khi ly hôn nên đây thuộc quan hệ “Tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn”, anh B hiện đang cư trú tại Khóm X, Phường Y, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Chị A là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; anh B là bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và nguyên đơn.
[3] Về hôn nhân:
[3.1] Sau khi kết hôn hợp pháp, chị A và anh B sống với nhau hòa thuận một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống nên anh chị thường xuyên cãi vả nhau. Mặc dù hai bên gia đình điều biết và có hòa giải nhưng cả hai không thể hàn gắn chị A nhận thấy cuộc hôn nhân giữa chị và anh B đã không còn hàn gắn được nữa, cuộc hôn nhân không hạnh phúc, nên chị xin được ly hôn. Giữa chị A và anh B cũng đã sống ly thân từ tháng 7/2023 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân cả hai cũng không liên lạc, quan tâm chăm sóc nhau.
[3.2] Hội đồng xét xử xét thấy, Tòa án đã hòa giải để chị A và anh B đoàn tụ nhưng chị A cương quyết ly hôn vì nhận thấy không còn tình cảm, cả hai không còn quan tâm nhau, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Còn anh B mặc dù đã được triệu tập hợp lệ để tham gia hòa giải nhưng vắng mặt không có lý do, nên không thể ghi nhận ý kiến của anh B. Mặc khác, hôn nhân phải dựa trên cơ sở tình yêu thương của cả hai vợ chồng, nhưng chị A cương quyết xin ly hôn, giữa chị A và anh B cũng sống ly thân thời gian dài, vì vậy có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân của anh chị đã thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị A là phù hợp với tình trạng hôn nhân hiện nay của anh chị.
[4] Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng chị A và anh B có 01 người con là cháu Hồ Sỹ C, sinh ngày 26/6/2023, khi ly hôn chị A yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung vì từ khi sinh ra cho đến nay các cháu sống chung với chị và được chị trực tiếp chăm sóc. Trong thời gian sống ly thân anh B cũng không đến thăm con. Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn như sau: “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”, Xét thấy cháu C hiện tại chưa đủ 36 tháng tuổi, khi ly hôn chị A cũng có yêu cầu được trực tiếp nuôi con, thu nhập hàng tháng của chị A là 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng; hiện tại cháu C đang được chị A trực tiếp chăm sóc, cháu phát triễn tốt. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị A, tiếp tục giao cháu C cho chị A trực tiếp trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định pháp luật.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị A xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không có căn cứ xem xét giải quyết.
[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai là phù hợp với quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng chị A phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 5, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Áp dụng khoản 1 Điều 51 và các Điều 56, 81, 82, 83Luật hôn nhân và gia đình;
- - Áp dụng khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tóa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Hoàng A được ly hôn với anh Hồ Chí B.
- Về con chung: Giao 01 người con là cháu Hồ Sỹ C, sinh ngày 26/6/2023 cho chị Bùi Hoàng A được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Cháu C hiện tại đang sống chung với chị A nên được giữ nguyên.
- - Anh Hồ Chí B không phải cấp dưỡng nuôi con do chị A không yêu cầu.
- - Anh Hồ Chí B có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung không ai được ngăn cản.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Bùi Hoàng A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm: Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm buộc chị Bùi Hoàng A có nghĩa vụ nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chị A đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng tại Biên lai thu số: 0008633, ngày 05/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã R, tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí toàn bộ.
Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thúy |
Bản án số 74/2024/HNGĐ-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ R, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 74/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ R, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hà thị Thùy D - Huỳnh Thanh Ng
