|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 105/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 30-8-2024
V/v Ly hôn và nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH – TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Chí Tâm
Các Hội thẩm nhân dân:
- + Ông Võ Tấn Phước
- + Ông Huỳnh Tài Em
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên toà: Ông Trần Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 136/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 về việc Ly hôn và nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2024 và quyết định hoãn phiên toà số 67/QĐHPT-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D, Sinh năm 1991.
Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
- Bị đơn: Anh Phan Văn B, S năm 1991
Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
(Chị D có đơn xin vắng mặt, anh B vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai của chị Nguyễn Thị D trình bày:
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D và anh Phan Văn B tự nguyên chung sống vợ chồng năm 2013 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 21/3/2014. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng sau này vợ chồng có xảy ra bất đồng mâu thuẫn do tính tình không hợp, anh B không quan tâm đến vợ con, vợ chồng chung sống không còn hạnh phúc, chị D và anh B đã sống ly thân từ tháng 03/2024 đến nay, Nên chị D yêu cầu xin được ly hôn anh Phan Văn B.
- Về con chung: Chị Nguyễn Thị D và anh Phan Văn B có 02 con chung là Phan Minh Đ, sinh ngày 05/02/2014 và Phan Khánh B1, sinh ngày 25/12/2016 hiện chị D đang nuôi dưỡng cháu B1, anh B đang nuôi dưỡng cháu Đ. Khi ly hôn chị D yêu cầu nuôi cháu B1, giao anh B nuôi cháu Đ và không yêu cầu anh B cấp dưỡng.
- Về tài sản và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra không yêu cầu gì khác.
* Bị đơn anh Phan Văn B trình bày:
- Về hôn nhân: Anh Phan Văn B và chị Nguyễn Thị D tự nguyên chung sống vợ chồng năm 2013 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 21/3/2014. Vợ chồng có xảy ra bất đồng mẫu thuẫn đúng lời trình bày của chị Nguyễn Thị D, vợ chồng chung sống vẫn hạnh phúc, thời gian gần đây vợ chồng sống ly thân từ tháng 03/2024 đến nay. Anh B nhận thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh B không đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Anh B và chị D có 02 con chung là Phan Minh Đ, sinh ngày 05/02/2014 và Phan Khánh B1, sinh ngày 25/12/2016 hiện chị D đang nuôi dưỡng cháu B1, anh B đang nuôi dưỡng cháu Đ. Chị D cương quyết ly hôn, anh B yêu cầu nuôi cháu Đ, giao chị D nuôi cháu B1 và không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con chung..
- Về tài sản và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra không yêu cầu gì khác.
Toà án tống đạt hợp lê các văn bản tố tụng cho nguyên đơn và bị đơn biết. Trong thời gian Toà án thụ lý giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị D vẫn giữ yêu cầu khởi kiện và có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Phan Văn B không có yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập và không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Đại diện Viên kiểm sát huyện H phát biểu quan điểm:
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.
Áp dụng khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Phan Văn B không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và vắng mặt lần thứ 2 Toà án tống đạt hợp lệ.
Đề nghị Hội đồng xét xử, xử vắng mặt chị Nguyễn Thị D và anh Phan Văn B như sau:
Áp dụng Khoản 1 Điều 56 Luật nhân gia đình năm 2014, đề nghị tuyên xử cho chị Nguyễn Thị D và anh Phan Văn B được ly hôn.
Về con chung: Anh B và chị D có 02 con chung là Phan Minh Đ, sinh ngày 05/02/2014 anh B nuôi dưỡng, cháu Phan Khánh B1, sinh ngày 25/12/2016 chị D đang nuôi dưỡng. Xét thấy tiếp tục giao cháu Đ cho anh B nuôi dưỡng, tiếp tục giao cháu B1 cho chị D nuôi dưỡng. về cấp dưỡng anh B2, chị D không ai có yêu cầu. Nên không xem xét giải quyết.
Áp dụng khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình 2014
Căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của các cháu; do cháu Phan Minh Đ và Phan Khánh B1 đã đủ 07 tuổi trở lên được xem xét nguyện vọng của các cháu.
Xét lời khai nguyện vọng của cháu B1 có yêu cầu được ở với chị D, cháu Đ có yêu cầu được ở với anh B.
Giao cháu Phan Minh Đ, sinh ngày 05/02/2014 cho anh Phan Văn B nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục. Giao cháu Phan Khánh B1, sinh ngày 25/12/2016 cho chị Nguyễn Thị D nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục.
Về cấp dưỡng muôi con do anh Phan Văn B và chị Nguyễn Thị D không có ý kiến yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản và nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết.
Áp dụng khoản 4 Điều 147, Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Chị Nguyễn Thị D phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị D có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình giải quyết về việc xin ly hôn và nuôi con; Tuy nhiên, giữa chị Nguyễn Thị D và anh Phan Văn B chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2013 đến ngày 21/3/2014 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; Do đó hôn nhân của anh B và chị D là hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Diễm. Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị D khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết. Anh Phan Văn B là bị đơn có nơi cư trú và nơi ở hiện tại, tại ấp C, xã M, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.
[3] Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị D và bị đơn anh Phan Văn B vắng mặt tại phiên tòa, riêng chị D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Theo quy định điểm b khoản 2, Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[4] Về nội dung tranh chấp:
[4.1] Về hôn nhân: Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị D, Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ trước nhưng các bên vẫn không có biện pháp gì để khắc phục hàn gắn tình cảm, thực tế đã sống ly thân với nhau từ tháng 03/2024 đến nay. Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho anh Phan Văn B nhưng anh B không đến Toà án tham dự phiên toà xét xử đến lần thứ 2, điều này cho thấy ý chí của anh B không muốn hàn gắn mối quan hệ vợ chồng giữa anh B và chị D, mà tiếp tục sống ly thân, đã thể hiện không có biên pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị D đối với anh Phan Văn B.
4.2 Về con chung: Anh B và chị D có 02 con chung là cháu Phan Minh Đ, sinh ngày 05/02/2014 anh B đang nuôi dưỡng và cháu Phan Khánh B1, sinh ngày 25/12/2016 hiện chị D đang nuôi dưỡng.
Áp dụng khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình 2014
Căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của các cháu; do cháu Phan Minh Đ và Phan Khánh B1 đã đủ 07 tuổi trở lên được xem xét nguyện vọng của các cháu.
Xét lời khai nguyện vọng của cháu B1 có yêu cầu được ở với chị D, cháu Đ có yêu cầu được ở với anh B. Chấp nhận ý kiến và nguyện vọng của các cháu.
Giao cháu Phan Minh Đ, sinh ngày 05/02/2014 cho anh Phan Văn B nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục. Giao cháu Phan Khánh B1, sinh ngày 25/12/2016 cho chị Nguyễn Thị D nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị D và anh B không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử giải quyết.
Sau khi ly hôn chị Nguyễn Thị D, anh Phan Văn B là người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
4.3 Về tài sản và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí sơ thẩm:
Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Chị Nguyễn Thị D phải chị toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
[6] Về ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên cần chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật nhân gia đình năm 2014
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị D đối với anh Phan Văn B. Xử cho chị Nguyễn Thị D được ly hôn với anh Phan Văn B.
2. Về con chung: Giao cháu Phan Khánh B1, sinh ngày 25/12/2016 cho chị Nguyễn Thị D nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục. Giao cháu Phan Minh Đ, sinh ngày 05/02/2014 cho anh Phan Văn B nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục.
Về chấp dưỡng nuôi con chung: Do chị D và anh B không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử giải quyết.
Sau khi ly hôn chị Nguyễn Thị D, anh Phan Văn B là người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản nợ chung: Không có. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị D phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Phan Văn B không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị Nguyễn Thị D đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lại số 0005411 ngày 15/04/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu. Nay chuyển thu án phí.
Án xử sơ thẩm công khai các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kê từ ngày tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Chí Tâm |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 105/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU về ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 105/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Diễm, Sinh năm 1991. Địa chỉ: Ấp Cá Rô, xã Minh Diệu, huyện Hoà Bình , tỉnh Bạc Liêu. - Bị đơn: Anh Phan Văn Bưởi, Sinh năm 1991 Địa chỉ: Ấp Cá Rô, xã Minh Diệu, huyện Hoà Bình , tỉnh Bạc Liêu.
