Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN XUÂN LỘC

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2024/HS-ST

Ngày 28-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Phạm Quang Nghĩa

2. Ông Nguyễn Văn Hiếu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thiêm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý - Kiểm sát viên.

Vào ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 83/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 95/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Trương Quốc T, tên gọi khác: T nhỏ, sinh năm 1991 tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp C, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn P (đã chết) và bà Tô Thị H, sinh năm: 1959; Vợ: Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm: 1998; có 01 người son sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 11/07/2022, bị Công an xã X xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý; Tạm giữ, tạm giam ngày 22 tháng 12 năm 2023 đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trương Quốc T nghiện ma tuý loại ma tuý tổng hợp (Methamphetamine) từ năm 2022. Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 17/12/2023, T nhờ S mua giúp ma tuý của người tên T1 (không rõ lai lịch) ở xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai với số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) để sử dụng. Sau đó, S hẹn T khoảng 09 giờ 00 phút ngày 18/12/2023 đến quán cà phê Hẻm A thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai để mua ma túy T1. Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 18/12/2023 tại quán cà phê Hẻm A thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai, T đã mua của T1 01 (một) hộp nhựa màu trắng, trong hộp có 08 (tám) gói nylon hình chữ nhật và 01 (một) gói nylon hình vuông hàn kín, tất cả đều chứa ma túy đá (M) với số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Sau khi mua được ma túy, T mang ma túy về cất giấu tại phòng ngủ của T tại nhà bà Tô Thị H (là mẹ ruột mình) ở ấp C, xã X để sử dụng dần. Đến khoảng 10 giờ 40 phút ngày 22/12/2023, Công an xã X tiến hành kiểm tra hành chính phát hiện dưới kệ hộp cá cảnh bên trong phòng ngủ của T có cất giấu 01 (một) hộp nhựa có kích thước (10,4 x 8,2 x 3,3)cm bên trong có chứa 06 (sáu) gói nylon hình chữ nhật hàn kín, đều có kích thước (2,4 x 01)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng và 01 (một) gói nylon hình vuông hàn kín, kích thước (3,5 x 3,5)cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng, T khai nhận tất cả đều là ma túy đá do T đã mua của T1 trước đó mà chưa sử dụng hết.

Tại kết luận giám định số 2861/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy có khối lượng 2,1141 gam, loại Methamphetamine.

Vật chứng vụ án và xử lý vật chứng:

  • - 01 (một) hộp nhựa có kích thước (10,4 x 8,2 x 3,3)cm màu trắng, dùng để đựng ma túy, thu giữ của T.
  • - 06 (sáu) gói nylon hình chữ nhật hàn kín, đều có kích thước (2,4 x 01)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng và 01 (một) gói nylon hình vuông hàn kín, kích thước (3,5 x 3,5)cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng, thu giữ của T, được bỏ vào phong bì niêm phong, ký hiệu M1.
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo thu giữ của Nguyễn Thị Mỹ D. Quá trình điều tra xác định điện thoại không liên quan đến vụ án nên đã trả điện thoại cho chị D.

Tại Bản cáo trạng số 88/CT-VKSXL ngày 04 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc truy tố bị cáo Trương Quốc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

Tuyên bố bị cáo Trương Quốc T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trương Quốc T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì được niêm phong mẫu vật sau giám định số 2861/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ; 01 (một) hộp nhựa có kích thước (10,4 x 8,2 x 3,3) cm, màu trắng.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trương Quốc T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thống nhất với Bản Cáo trạng, Bản Luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Tại phiên tòa bị cáo Trương Quốc T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội: Ngày 22/12/2023, Công an xã X kiểm tra, phát hiện Trương Quốc T có hành vi cất dấu 06 gói ma tuý đá có khối lượng 2,1141 gam, loại Methamphetamine để sử dụng. Do đó, đủ cơ sở kết luận bị cáo Trương Quốc T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
  3. [3] Hành vi của bị cáo Trương Quốc T là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn trật tự tại địa phương. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
  4. [4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trương Quốc T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  5. [5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
  6. [6] Đối với đối tượng tên S và tên T1, do không rõ nhân thân, lai lịch cụ thể nên không có cơ sở để xử lý. Đối với bà Tô Thị H không biết T tàng trữ ma túy trong nhà nên xử lý là phù hợp.
  7. [7] Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu số 2861/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh Đ, niêm phong ngày 29/12/2023; 01 (một) hộp nhựa có kích thước (10,4 x 8,2 x 3,3) cm, màu trắng.
  8. [8] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
  9. [9] Về án phí: Bị cáo Trương Quốc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Trương Quốc T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trương Quốc T 02 (Hai) năm 06 (S1) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22 tháng 12 năm 2023.

- Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu số 2861/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh Đ, niêm phong ngày 29/12/2023; 01 (một) hộp nhựa có kích thước (10,4 x 8,2 x 3,3) cm, màu trắng (Đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/4/2024).

- Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trương Quốc T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Trương Quốc T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Xuân Lộc;
  • - Công an huyện Xuân Lộc;
  • - CCTHADS huyện Xuân Lộc;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Hồ sơ thi hành án;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Văn Tiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)

  • Số bản án: 105/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger