Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:105/2023/HS - ST

Ngày: 26-12-2023

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Như Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Giới

Ông Trần Văn Nam

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Đức Trọng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Công Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 111/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2023/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Quốc K; sinh ngày 27/9/1984 tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: khu T, phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Mạnh H và bà Nguyễn Thị L; vợ: Nguyễn Thị M; con: có 03 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 20/10/2003, bị Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Đà Nẵng xử phạt 18 tháng tù về tội “Lưu hành tiền giả”, ngày 01/9/2006 chấp hành xong bản án; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/8/2023, có mặt tại phiên tòa.

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
  • Anh Hoàng Minh T, sinh năm 1990; nơi thường trú: khu Y, phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • - Người làm chứng: chị Nguyễn Thị H1; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Quốc K và anh Hoàng Minh T sinh năm 1990, trú tại khu Y, phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh (là hai anh em ruột), tháng 4/2020, K mua chiếc xe ô

tô bán tải màu đen, hiệu (F – Wild Track) biển kiểm soát 14C – 229.44 của ông Nguyễn Văn Ư, trú tại xã (nay là phường H), thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh sau khi mua được xe ô tô K gặp và nhờ anh T đứng tên chủ sở trong hồ sơ xe ô tô để làm thủ tục vay 700.000.000đ (bảy trăm triệu đồng) tại Ngân hàng thương mại cổ phần A, chi nhánh U. Theo hợp đồng thì tài sản thế chấp là xe ô tô biển kiểm soát 14C – 229.44, thời hạn vay 05 (năm) năm, theo thỏa thuận trong hợp đồng thì hàng tháng phải trả tiền lãi, tiền gốc cho Ngân hàng là 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng). Vì vậy, toàn bộ giấy tờ xe ô tô biển kiểm soát 14C- 229.44 đều mang tên anh T, nhưng K là người quản lý và sử dụng chiếc xe ô tô trên, còn toàn bộ giấy tờ hợp pháp (bản chính) của xe ô tô do Ngân hàng Thương mại cổ phần A giữ. Đến tháng 4/2021, do xe ô tô đến hạn phải đăng kiểm, nhưng do không có khả năng trả tiền gốc, tiền lãi nên Ngân hàng không cấp giấy xác nhận về việc thế chấp xe ô tô biển kiểm soát 14C- 229.44 cho anh T để đưa cho K đi đăng kiểm. Do đó, K đã nảy sinh ý định làm giả tem kiểm định; tem nộp phí sử dụng đường bộ; giấy chứng nhận đăng kiểm xe ô tô và giấy đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 14C- 229.44 để đủ điều kiện kiểm định xe, cũng như tiếp tục lưu hành hoạt động tránh sự kiểm tra của cơ quan chức năng.

Khoảng tháng 5/2023, K đã lên mạng xã hội (Facebook) vào trang “Làm Bằng Cấp Đại Học Cao Đẳng Trung Cấp C3, C2 Chứng chỉ các loại”, tìm gặp một người không quen biết làm giả được tài liệu như Tem kiểm định; Tem nộp phí sử dụng đường bộ; Giấy chứng nhận đăng kiểm xe ô tô và giấy đăng ký xe ô tô, sau đó K đã cung cấp thông tin về các loại giấy tờ cần làm, rồi người này bảo K kết bạn Zalo để được tư vấn thì K đồng ý. Tiếp đến, K kết bạn Zalo qua số điện thoại do người này cung cấp thì hiển thị tài khoản “Gia Cát Khổng Minh”. Sau khi thỏa thuận xong đến ngày 23/5/2023, K nhận được toàn bộ giấy tờ theo yêu cầu gồm 01 (một) tem kiểm định; 01 (một) tem nộp phí sử dụng đường bộ; 01 (một) giấy chứng nhận đăng kiểm xe ô tô và 01 (một) giấy đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 14C- 229.44 để bên trong chiếc ví da màu đen do chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1975, trú tại khu Y, phường Y, thị xã Đ là nhân viên Bưu điện phường Y, thị xã Đ chuyển đến cho K, đồng thời K đã chuyển khoản 3.800.000₫ (ba triệu tám trăm nghìn đồng) cho chị H1 để chị H1 thanh toán đơn hàng. Sau khi nhận được các loại tài liệu, giấy tờ giả K đã dán tem kiểm định; tem nộp phí sử dụng đường bộ vào góc trên, phía trước, bên phải kính chắn gió để lưu hành xe ô tô biển kiểm soát 14C- 229.44 phục vụ sinh hoạt chung của gia đình, cũng như đi lại, làm ăn kinh doanh, nhằm trách sự phát hiện của các cơ quan chức năng. Tuy nhiên, đến ngày 05/6/2023, hành vi sử dụng tài liệu giả liên quan đến xe ô tô biển kiểm soát 14C – 229.44 của K bị người dân tố giác đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ.

Đến ngày 08/6/2023, Cơ quan điều tra Công an thị xã Đ thu giữ của K gồm: 01 (một) xe ô tô Ford Ranger biển kiểm soát 14C – 229.44; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 081485 (đăng ký lần đầu ngày 08/01/2018) biển số đăng ký 14C – 229.44 (Ký hiệu A01); 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số: No: KD 7952495 biển đăng ký 14C – 229.44 (Ký hiệu A02); 01 (một) tem kiểm định trên tem có ghi chữ CỤC ĐĂNG KIỂM VIỆT NAM, BỘ GIAO

THÔNG VẬN TẢI. 05/2024 - 14C - 22944 (có hiệu lực đến ngày 14/5/2024) BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG (Ký hiệu A03); 01 (một) tem trên tem có ghi chữ TEM NỘP PHÍ SỬ DỤNG ĐƯỜNG BỘ, BỘ G; 05/2024; 14C – 229.44 (Đã nộp phí đến ngày 14/5/2024). (Ký hiệu A04). Ngoài ra K còn giao nộp 01 (một) chiếc điện thoại Iphone Xsmax màu vàng và 01 (một) ví da màu đen.

Tại bản Kết luận giám định số 1061/KL-KTHS ngày 25/7/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận:

  • - Mẫu in “Chứng nhận đăng ký xe ô tô” cần giám định (ký hiệu A01) so với mẫu in “Chứng nhận đăng ký xe ô tô” mẫu so sánh (ký hiệu M01) không phải do cùng bản in, in ra.
  • - Chữ ký mang tên “Nguyễn Khánh T1” trong tài liệu cần giám định (ký hiệu A01) so với chữ ký mang tên “Nguyễn Khánh T1” trong tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M01, M02 không phải do cùng một con dấu đóng ra.
  • - Mẫu in “Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ” cần giám định ký hiệu A02 so với mẫu in “Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ”, mẫu so sánh ký hiệu M03 không phải do cùng bản in, in ra.
  • - Chữ ký mang tên “Đỗ Duy L1” trong tài liệu cần giám định (ký hiệu A02) so với chữ ký mang tên “Đỗ Duy L1” trong tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M04 không phải do cùng một người ký.
  • - Mẫu in tem “An toàn kỹ thuật bảo vệ môi trường” cần giám định ký hiệu A03 so với mẫu in tem “An toàn kỹ thuật bảo vệ môi trường” mẫu so sánh ký hiệu M06, M07 không phải do cùng bản in, in ra.
  • - Mẫu in “Tem nộp phí sử dụng đường bộ” cần giám định ký hiệu A04 so với mẫu in “Tem nộp phí sử dụng đường bộ” mẫu so sánh ký hiệu M08 không phải do cùng bản in, in ra.
  • - Hình dấu “Trung tâm Đ – 1402 C.T.C.P đăng kiểm xe cơ giới đường bộ Quảng Ninh” trong các tài liệu, cần giám định, ký hiệu A02, A03, A04 so với hình dấu cùng nội dung trong các tài liệu mẫu so sánh lý hiệu M03 đến M07 không phải do cùng một con dấu đóng ra.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo Hoàng Quốc K khai nhận như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Ngoài ra, tại phiên tòa:

Bị cáo Hoàng Quốc K khai: bị cáo và anh Hoàng Minh T là hai anh em ruột. Chiếc xe ô tô Ford Ranger biển kiểm soát 14C - 229.44 là của bị cáo mua và nhờ anh T đứng tên tháng 4 năm 2020. Bị cáo mua dưới hình thức vay thế chấp với Ngân hàng TMCP A. Đến tháng 4 năm 2021, xe ô tô đến hạn phải đăng kiểm, nhưng do không có khả năng trả tiền gốc, tiền lãi nên Ngân hàng không cấp giấy xác nhận về việc thế chấp xe ô tô cho T để đưa bị cáo đi đăng kiểm. Tháng 5 năm 2023, bị cáo đã nảy sinh ý định làm giả tem kiểm định; tem nộp phí sử dụng đường bộ; giấy chứng nhận đăng kiểm xe ô tô và giấy đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 14C- 229.44 của một người không quen biết với số tiền 3.800.000đ (ba triệu tám trăm nghìn đồng). Ngày 23/5/2023 bị cáo nhận được các giấy tờ giả đã đặt. Từ ngày 25/5/2023 đến ngày 08/6/2023, bị cáo sử dụng các tài liệu giả này vào việc lưu thông xe ô tô (F – WildTrack) biển kiểm soát

14C - 229.44, nhằm mục đích tránh sự kiểm tra của các cơ quan chức năng, thì bị phát hiện thu giữ.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Minh T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra, đơn xin xét xử vắng mặt thể hiện: bị cáo Hoàng Quốc K là anh trai của anh. Do bị cáo K và vợ đang ly thân nên khi K có ý định mua xe ô tô thì đã nhờ anh đứng tên mua xe ô tô Ford Ranger biển kiểm soát 14C - 229.44 và thủ tục vay tiền tại Ngân hàng. Anh chỉ đứng tên trong các giao dịch còn việc trả tiền mua xe và thanh toán khoản vay với Ngân hàng thì do bị cáo K là người thực hiện. Sau đó, do bị cáo K không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng nên Ngân hàng đã khởi kiện ra Tòa án. Do anh đi làm ăn xa, thỉnh thoảng mới về nhà nên anh không biết việc bị cáo K làm giả giấy tờ xe, đăng kiểm xe để đi lại. Anh đề nghị Tòa án trả lại cho anh chiếc xe ô tô để anh thực hiện nghĩa vụ với Ngân hàng.

Người làm chứng chị Nguyễn Thị H1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra như sau: ngày 23/5/2023 chị có chuyển cho bị cáo Hoàng Quốc K một bưu phẩm là phong bì thư, kích thước khoảng 20x30 cm, trả cod với số tiền 3.800.000đ (ba triệu tám trăm nghìn đồng). Do bị cáo chưa có tiền nên chị cho bị cáo nợ lại. Ngày 29/5/2023 chị đến nhà K đòi số tiền trên thì K chuyển tiền từ tài khoản K đến tài khoản Ngân hàng B của chị. Chị không biết trong bưu phẩm gửi cho bị cáo K là những gì.

Tại Cáo trạng số: 111/CT- VKSĐT ngày 30 - 11 - 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều truy tố bị cáo Hoàng Quốc K về tội " Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức" theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

a) Về trách nhiệm hình sự:

  • - Về hình phạt chính: áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 (hai mươi tư) đến 30 (ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

b, Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSmax vỏ màu vàng.
  • - Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) ví da màu đen; 01 sim điện thoại số 0899.973.xxx
  • - Trả lại cho anh Hoàng Minh T 01 (một) xe ô tô Ford Ranger màu sơn đen, gắn biển kiểm soát 14C - 229.44, số khung: FF50JW798129, số máy: P5AT2257223 đã qua sử dụng để thi hành theo Quyết định về việc cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản số 04/QĐ – CCTHADS ngày 10/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Triều.

Lưu trong hồ sơ vụ án:

  • - 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 081485 do Phòng C Công an tỉnh Q cấp ngày 21/4/2020; tên chủ xe “HOÀNG MINH THÀNH”, địa chỉ “Y, Y, Đ, QN”;
  • - 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số: KD 7952495 ghi do “Trung tâm Đ – 1402 C.T.C.P đăng kiểm xe cơ giới đường bộ Quảng Ninh” cấp ngày 15/05/2023
  • - 01 (một) tem “An toàn kỹ thuật bảo vệ môi trường” số: KD 7952495
  • - 01 (một) “Tem nộp phí sử dụng đường bộ” số: 1A 7952495

Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về việc định tội đối với bị cáo: lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, với vật chứng thu giữ của bị cáo, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng tháng 5/2023, tại khu Y, phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Hoàng Quốc K đã có hành vi thuê một người không quen biết trên mạng xã hội (Facebook) rồi cung cấp thông tin để cho người này làm giả tài liệu gồm: 01 (một) tem kiểm định; 01 (một) tem nộp phí sử dụng đường bộ; 01 (một) giấy chứng nhận đăng kiểm xe ô tô và 01 (một) giấy đăng ký xe ô tô với giá 3.800.000 đ (ba triệu tám trăm nghìn đồng). Sau đó, từ ngày 25/5/2023 đến ngày 08/6/2023, K sử dụng các tài liệu giả này vào việc lưu thông xe ô tô (F – WildTrack) biển kiểm soát 14C - 229.44, nhằm mục đích tránh sự kiểm tra của các cơ quan chức năng, thì bị phát hiện thu giữ.

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều truy tố và kết luận về hành vi phạm tội đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nước về con dấu, tài liệu, gây dư luận xấu trong nhân dân, thể hiện tính coi thường pháp luật. Bản thân bị cáo là người trưởng thành, nhận thức rõ là việc đặt mua 01 (một) tem kiểm định; 01 (một)

tem nộp phí sử dụng đường bộ; 01 (một) giấy chứng nhận đăng kiểm xe ô tô và 01 (một) giấy đăng ký xe ô tô, sau đó dùng để lưu hành hoạt động kinh doanh và đăng kiểm xe là vi phạm pháp luật, xâm phạm hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, có thể gây ra những hậu quả khi tham gia giao thông đối với xe không được kiểm định an toàn. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình gây ra.

[3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: ngày 20/10/2003, bị Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Đà Nẵng xử phạt 18 tháng tù về tội “Lưu hành tiền giả”, ngày 01/9/2006 chấp hành xong bản án.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị cáo có mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị L và bố đẻ là ông Hoàng Mạnh H được tặng Huy chương chiến công hạng Nhì, được chính quyền địa phương xác nhận có hoàn cảnh khó khăn, nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những đánh giá, phân tích nêu trên, căn cứ vào nhân thân, hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy mặc dù bị cáo có nhân thân về tội “Lưu hành tiền giả” nhưng bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, từ thời điểm trước, trong và sau khi phạm tội bị cáo đều chấp hành tốt đường lối chính sách, không vi phạm pháp luật và được địa phương xác nhận nên xét thấy không cần cách ly bị cáo khỏi xã hội, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ để răn đe đối với bị cáo, giúp bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, xét bị cáo hiện không có việc làm, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 (một) xe ô tô Ford Ranger màu sơn đen, gắn biển kiểm soát 14C - 229.44, số khung: FF50JW798129, số máy: P5AT2257223 đã qua sử dụng là tài sản để thi hành án theo Quyết định về việc cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản số 04/QĐ – CCTHADS ngày 10/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Triều, không phải là vật chứng của vụ án cần trả lại cho anh Hoàng Minh T để thực hiện nghĩa vụ thi hành án.
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSmax vỏ màu vàng liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu sung ngân sách nhà nước;
  • - 01 (một) ví da màu đen; 01 sim điện thoại số 0899.973.xxx không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy;

Cần lưu trong hồ sơ vụ án: 01 (một) tem kiểm định; 01 (một) tem nộp phí sử dụng đường bộ; 01 (một) giấy chứng nhận đăng kiểm xe ô tô và 01 (một) giấy đăng ký xe ô tô

[6] Về các vấn đề khác: người đàn ông đã làm, rồi bán cho K những tài liệu, giấy tờ giả theo K khai. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ, nên không đủ căn cứ để xử lý; đối với anh Hoàng Minh T không biết K đặt làm rồi mua và sử dụng các loại tài liệu, giấy tờ giả trên, nhằm mục đích để lưu hành xe ô tô biển kiểm soát 14C – 229.44 nên không có căn cứ xử lý. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[7] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ: khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Quốc K 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, thời gian thử thách 24 (hai mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26 tháng 12 năm 2023).

Giao bị cáo Hoàng Quốc K cho Ủy ban nhân dân phường Y, thị xã Đ giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSmax vỏ màu vàng.
  • - Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) ví da màu đen; 01 sim điện thoại số 0899.973.xxx
  • - Trả lại cho anh Hoàng Minh T 01 (một) xe ô tô Ford Ranger màu sơn đen, gắn biển kiểm soát 14C - 229.44, số khung: FF50JW798129, số máy: P5AT2257223 đã qua sử dụng.

Lưu trong hồ sơ vụ án:

  • - 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 081485 do Phòng C Công an tỉnh Q cấp ngày 21/4/2020; tên chủ xe “HOÀNG MINH THÀNH”, địa chỉ “Y, Y, Đ, QN”;
  • - 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số: KD 7952495 ghi do “Trung tâm Đ – 1402 C.T.C.P đăng kiểm xe cơ giới đường bộ Quảng Ninh” cấp ngày 15/05/2023
  • - 01 (một) tem “An toàn kỹ thuật bảo vệ môi trường” số: KD 7952495
  • - 01 (một) “Tem nộp phí sử dụng đường bộ” số: 1A 7952495

(Số vật chứng, tài sản trên có tình trạng và đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số 37 ngày 01 tháng 12 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh).

3. Về xử lý biện pháp ngăn chặn: căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú” số 56a/2023/HSST - CĐKNCT ngày 05/12/2023 và “tạm hoãn xuất cảnh” số 117a/2023/QĐTHXC - TA ngày 05/12/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều đối với bị cáo Hoàng Quốc K kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

4. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Hoàng Quốc K phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Cơ quan điều tra Công an thị xã Đông Triều;
  • - Cơ quan THAHS Công an thị xã Đông Triều;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Đông Triều;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Chi cục THA DS Thị xã Đông Triều;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ, VP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Trần Thị Như Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2023/HS - ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH về sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 105/2023/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Quốc Khánh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger