|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 105/2023/HS-ST Ngày: 26/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Tấn Khoa và bà Phạm Thị Bích Lệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Minh Thị Thu Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Vân - Kiểm sát viên.
( Tham gia tại điểm cầu trung tâm)
Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ công an huyện B sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 119/2023/ TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình đối với bị cáo:
Lê Thanh T (Tên gọi khác: B) sinh năm 1996; tại tỉnh Bình Thuận;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu phố X, thị trấn C, huyện B, Bình Thuận
Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn D, sinh năm 1968 và Mẹ Hà Thị H, sinh năm 1965; anh, chị, em ruột: gia đình có 02 người con, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình; vợ, con: Chưa có.
Tiền sự: Vào ngày 23/5/2020, Lê Thanh T được đưa vào Cơ sở cai nghiện ma túy bảo trợ xã hội P, tỉnh Bình Phước, thời hạn 18 tháng theo Quyết định số 243/QĐTA ngày 23/7/2023 của TAND quận 4, thành phố Hồ Chí Minh, ngày 23/11/2021 chấp hành xong thời hạn cai nghiện bắt buộc.
Tiền án: không.
Nhân thân: Ngày 15/8/2023, Lê Thanh T bị Cơ quan CSĐT khởi tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ công an huyện B, tỉnh Bình Thuận
- Bị hại:
- + Bà Hà Thị H, sinh năm 1965
- + Ông Lê Văn D, sinh năm 1968
Cùng địa chỉ: KP X, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
(Bà H, ông D có mặt tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận)
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Đại diện Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình: Ông Đa Văn T1 – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình
+ Đại diện nhà tạm giữ Công an huyện B: Nguyễn Hữu P; Lâm Quang L; Chức vụ: Cán bộ Nhà tạm giữ Công an huyện B.
(Tham gia tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện B)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 24/7/2023, Lê Thanh T (thường gọi là B là con ruột của bà Hà Thị H, sinh năm 1965 và ông Lê Văn D, sinh năm 1968) đang sống chung với cha mẹ tại khu phố X, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bình Thuận, T biết bà H và ông D cất giấu vàng dưới để chân quạt gió để trong phòng ngủ, lợi dụng bà H và ông D không có ở nhà, T nảy sinh ý định trộm vàng của bà H, ông D đem đi bán lấy tiền mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân nên T lén lút đi vào phòng ngủ của bà H và ông D tháo đế chân quạt gió ra phát hiện có 01 túi vải màu đỏ phía trên miệng túi có dây gút, bên trong túi gồm có: 01 chiếc nhẫn kim tiền hột đỏ bằng vàng 610, trọng lượng 06 phân 05; 01 chiếc nhẫn cóc ngậm hột xanh bằng vàng 610, trọng lượng 01 chỉ 01 phân 02; 01 chiếc nhẫn cóc ngậm hột đỏ bằng vàng 610, trọng lượng 01 chỉ 01 phân 02; 01 lắc tay bằng vàng 610, trọng lượng 02 chỉ 04 phân 03; 01 cái vòng đeo tay bằng vàng 610 trọng lượng 09 phân 09; 01 cái vòng đeo tay bằng vàng 610 trọng lượng 01 chỉ 04 phân; 01 sợi dây chuyền vàng 18k, trọng lượng 03 chỉ; 01 chiếc nhẫn bàn bằng vàng 24k, trọng lượng 02 chỉ 05 phân và 01 chiếc nhẫn bằng vàng trơn 24k có trọng lượng 02 chỉ. T lấy toàn bộ số vàng rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 86K9-2146 của bà H đến Nhà xe của Bệnh viện Đ gửi xe mô tô. Sau đó, T cầm theo số vàng vừa trộm được đi bộ đến quán Sở khu phố X, thị trấn C, huyện B đón xe khách Đ vào thành phố Hồ Chí Minh. Vào đến thành phố Hồ Chí Minh là khoảng 07 giờ 30 phút ngày 25/7/2023, T thuê 01 người xe ôm (không rõ nhân thân, lai lịch) chở T đến một tiệm vàng (không rõ tên; địa chỉ) trên địa bàn Quận D, thành phố Hồ Chí Minh để bán hết số vàng mà T trộm được là 45.700.000 đồng, số tiền trên T đã dùng mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 12/8/2023, T đón xe khách từ thành phố Hồ Chí Minh về lại nhà ở khu phố X, thị trấn C, huyện B, sau đó bị Công an thị trấn C mời làm việc. Tại đây T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 56/2023/HĐĐG-TTHS ngày 29/08/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện B kết luận:
- - 01 chiếc nhẫn kim tiền hột đỏ bằng vàng 610 (vàng 18K) có trọng lượng 0,65 chỉ, giá 2.260.050 đồng;
- - 01 chiếc nhẫn cóc ngậm hột xanh bằng vàng 610(vàng 18K) có trọng lượng 1,12 chỉ, giá 3.894.240 đồng;
- - 01 chiếc nhẫn cóc ngậm hột đỏ bằng vàng 610 (vàng 18K) có trọng lượng 1,12 chỉ, giá 3.894.240 đồng;
- - 01 lắc tay bằng vàng 610(vàng 18K) có trọng lượng 2,43 chỉ, giá 8.449.110 đồng;
- - 01 cái vòng đeo tay bằng vàng 610 (vàng 18K) có trọng lượng 0,99 chỉ, giá 3.442.230 đồng;
- - 01 cái vòng đeo tay bằng vàng 610 (vàng 18K) có trọng lượng 1,4 chỉ, giá 4.867.800 đồng.;
- - 01 sợi dây chuyền vàng 610 (vàng 18k) có trọng lượng 03 chỉ, giá 10.431.000 đồng.
- - 01 chiếc nhẫn bằng vàng 24K (vàng Y999) có trọng lượng 2,5 chỉ, giá 14.057.500 đồng.
- - 01 chiếc nhẫn bằng vàng 24k (vàng Y999) có trọng lượng 02 chỉ, giá 11.246.000 đồng.
Tổng giá trị là 62.542.170 đồng.
Về tang, vật chứng: Không có
Về phần dân sự: Bị hại ông Lê Văn D và bà Hà Thị H không yêu cầu bồi thường, nên không xem xét, giải quyết.
Tại bản Cáo trạng số 130/CT-VKSBB ngày 27 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình truy tố bị cáo Lê Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ Luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, vị Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố, luận tội và tranh luận về hành vi phạm tội của bị cáo Lê Thanh T thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ Luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lê Thanh T từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Về tang, vật chứng của vụ án: không có
- Về phần trách nhiệm dân sự: Bi hại ông Lê Văn D và bà Hà Thị H không yêu cầu bồi thường, nên không xem xét, giải quyết.
Bị cáo Lê Thanh T không tranh luận gì với bản luận tội của Kiểm sát viên, đồng thời thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình chỉ xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt. Bị hại thống nhất với bản luận tội của Kiểm sát viên và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hồi đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở để kết luận:
Vào khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 24/7/2023 bị cáo Lê Thanh T biết việc ba mẹ của mình là ông D và bà H có cất giấu vàng dưới đế chân quạt gió trong phòng ngủ, lợi dụng việc ông D, bà H không có ở nhà bị cáo đã nảy sinh ý định trộm cắp, lén lút lấy trộm vàng của ba mẹ mình đem bán lấy tiền mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân. Do đó, bản Cáo trạng số 130/CT-VKSBB ngày 27/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình truy tố bị cáo theo khung hình phạt và điều luật đã viện dẫn trong Cáo trạng là có căn cứ và đúng pháp luật.
Bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi nguy hiểm cho xã hội phải bị xử lý nhưng do bản chất tham lam, tư lợi cá nhân và xem thường pháp luật, bị cáo đã phạm tội do lỗi cố ý trực tiếp.
Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do đó, nghĩ nên tuyên cho bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để răn đe các đối tượng khác có ý đồ phạm tội tương tự.
[3] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Lê Thanh T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[4] Về xử lý vật chứng vụ án: Không có
[5] Về phần trách nhiệm dân sự: Bi hại ông Lê Văn D và bà Hà Thị H không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- * Căn cứ: Khoản 1 Điều 268; Khoản 1 Điều 269 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung 2017)
- * Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- * Xử phạt: Xử phạt bị cáo Lê Thanh T 02 (hai) năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- * Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ Luật Tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Thanh T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- *Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26/12/2023).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tuấn Anh |
Bản án số 105/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 105/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thanh Triệu, trộm cắp tài sản
