Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2024/HS-ST

Ngày: 26-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Mạnh Trường và ông Lê Ngọc Sử.

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nga - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 85/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Thành L;

    Sinh năm 1988; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước; Chỗ ở: Khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không, Con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1958 và bà Đinh Thị H, sinh năm 1960; Bị cáo có 03 anh em, nhỏ nhất sinh năm 1995, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; Vợ, con: Chưa có.

    Tiền án: 02.

    Ngày 08/06/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xử phạt 36 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, (bản án số 24/2016/HSST).

    Ngày 23/04/2024 chấp hành xong án phí, (chưa được xóa án tích).

    Ngày 17/01/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt 01 năm tù về tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ” Tổng hợp với hình phạt 04 năm tù tại bản án số 296/2017/HSST). ngày 10/11/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương bị cáo Nguyễn Thành L phải chấp hành chung của hai bản án là 05 năm tù, (bản án số 05/2018/HSST), (chưa được xóa án tích)

    Nhân thân:

    Ngày 11/11/2005, bị Công an huyện B (nay là thị xã B), tỉnh Bình Phước xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    Ngày 07/5/2007, bị Công an huyện B (nay là thị xã B), tỉnh Bình Phước xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Mua bán, vận chuyển hàng lậu”.

    Ngày 10/03/2011, bị Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước xử phạt 03 tháng 25 ngày tù về tội Chống người thi hành công vụ (bản án số 07/2011/HSST).

    Ngày 10/11/2017, bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 03 năm tù tại bản án số 24/2016/HSST ngày 08/06/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình bị cáo Nguyễn Thành L phải chấp hành chung của hai bản án là 04 năm tù, (bản án số 296/2017/HSST). Ngày 01/4/2020 L đã chấp hành xong phần bồi thường dân sự.

    Ngày 15/06/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 05 năm tù tại bản án số 05/2018/HSST). ngày 17/01/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình bị cáo Nguyễn Thành L phải chấp hành chung của hai bản án là 06 năm 06 tháng tù, (bản án số 198/2018/HSST). Ngày 14/10/2022, chấp hành xong hình phạt tù.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/01/2024 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.

  2. Nguyễn Phương N;

    Sinh năm 1984; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: 324 đường số B, Cư xá Đài Ra Đa P, phường A, quận F, thành phố Hồ Chí Minh. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không;Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không, Con ông: Nguyễn Lương H1 (đã chết) và bà Trương Thị G, sinh năm 1951; Bị cáo có 05 chị em, lớn nhất sinh năm 1974, nhỏ nhất sinh năm 1989, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Vợ: Phạm Thị P, sinh năm: 1984, (đã ly hôn). Con: Nguyễn Phạm Phương A, sinh năm 2012.

    Tiền án: 01.

    Ngày 16/12/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Nguyễn Phương N 12 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Ngày 02/01/2023 chấp hành xong án phạt tù, ngày 23/03/2016 đóng án phí.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/10/2023 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại:

  1. Nguyễn Thị Thu H2; sinh năm 1993. Trú tại: tổ G, khu phố C, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (vắng mặt).
  2. Lê Phú C1; sinh năm 1985. Trú tại: E, ấp C, xã X, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  3. Võ Thị Anh T; sinh năm 1984; Trú tại: Khu phố S, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (vắng mặt).
  4. Đoàn Thị M; sinh năm 1976; Trú tại: Khu phố B, phường S, thị xã P, tỉnh Bình Phước (vắng mặt).
  5. Nguyễn Thị B; sinh năm 1982; Trú tại: Thôn P, xã P, thị xã P, tỉnh Bình Phước (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị P1; sinh năm:1971; Trú tại: C đường số B, Cư xá Đài Ra Đa P, phường A, quận F, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

- Người làm chứng: Phan Thị Thùy D; sinh năm 1983; Trú tại: khu phố X, phường T, thành phố Đ (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đầu năm 2023, Nguyễn Thành L làm nhân viên Công ty TNHH D2 tại phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh và làm cộng tác viên với ngân hàng V (còn gọi là Ngân hàng thương mại cổ phần V1) thông qua. Nhiệm vụ của L là quản lí những người làm công việc thu thập hồ sơ khách hàng vay tiền ngân hàng V và L đăng thông tin trên mạng xã hội Facebook tên “Thành Long” về việc có nhận làm hồ sơ cho vay tiền để người có nhu cầu vay tiền liên hệ với L làm hồ sơ vay tiền.

Đến tháng 9/2023, L nghỉ việc, do cần tiền tiêu xài cá nhân nên L nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của những khách hàng có nhu cầu vay tiền. L lợi dụng những người có nhu cầu vay tiền khi họ liên hệ với L để hỏi làm hồ sơ vay tiền. L hướng dẫn làm hồ sơ vay, khai thông tin của người vay vào phiếu thu thập thông tin khách hàng, sau đó L chuyển phiếu thu thập thông tin khách hàng vay cho Nguyễn Phương N để N trực tiếp liên hệ đến gặp người vay tiền. L hướng dẫn N tự nhận tên là T1 nhân viên thẩm định của ngân hàng để lừa dối khách hàng vay. Đồng thời trong quá trình thực hiện hành vi, nhằm tạo lòng tin đối với khách vay tiền, L nói với N để L giả làm sếp của N và N sẽ xin ý kiến mỗi khi đến liên hệ với khách hàng vay. N sử dụng tên Z “Toàn T2” được đăng ký bằng số điện thoại 0903.726.xxx để liên lạc, trao đổi thông tin với người vay, N đến gặp người vay giới thiệu tên T2 – thẩm định viên tại ngân hàng V yêu cầu cung cấp các thông tin để thẩm định tài sản, N và L thống nhất, N sẽ lưu tên L trên Zalo là “Sếp H8” để L lấy danh nghĩa là Hoàng cấp trên của N nói chuyện với người vay, cung cấp thêm các thông tin cho người vay tin tưởng. Sau đó N sẽ hứa hẹn các khoản vay mà khách có nhu cầu sẽ được vay trong vòng 7 đến 10 ngày để người vay tin tưởng đưa cho N số tiền từ 1.000.000đồng đến 4.000.000đồng. Sau khi nhận tiền xong, N và L chia nhau tiền tiêu xài cá nhân, cắt liên lạc với người vay.

Qúa trình điều tra xác định L chuyển cho N 24 phiếu thu thập thông tin khách hàng vay, trong đó 05 phiếu xác định được người vay gồm Lê Phú C1, Võ Thị Anh T, Nguyễn Thị B, Đoàn Thị M, Nguyễn Thị Thu H2 bị L, N chiếm đoạt tổng số tiền 18.000.000đồng; 04 phiếu xác định được người vay gồm Nguyễn Thị P1, Nguyễn Đức B1, Lê Thị Thu H3, Nguyễn Trung K nhưng không đồng ý đưa tiền nên L, N không chiếm đoạt được tiền và 15 phiếu đã ủy thác điều tra, xác minh nhưng chưa làm việc được với người vay.

Lần thứ nhất: Khoảng đầu tháng 10/2023, L quen biết với chị Phan Thị Thùy D trú tại: khu phố X, phường T, thành phố Đ trên mạng xã hội Facebook, L nói với chị D “L là cộng tác viên của ngân hàng V, có hỗ trợ cho vay tín chấp” nên chị D nói có nhiều người ở thành phố Đ muốn vay và nói L lên thành phố Đ để hỗ trợ. Đến ngày 12/10/2023, L đến Thành phố Đ ở tại trụ sở công ty của chị D tại khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước và qua D giới thiệu thì chị Nguyễn Thị B trú tại Thôn P, xã P, thị xã P, tỉnh Binh Phước đến thành phố Đ gặp L để làm hồ sơ vay số tiền 500.000.000đồng. Sau đó, L chuyển hồ sơ vay của chị B trong đó có phiếu thu thập thông tin khách hàng vay qua zalo cho N. Đến ngày 13/10/2023, N liên hệ gặp chị B và giới thiệu tên là T2 nhân viên thẩm định của ngân hàng, chụp hình giả vờ là thẩm định và yêu cầu chị B đưa số tiền 4.000.000đồng cho N. Sau khi nhận được 4.000.000đồng N đi về thông báo cho L biết, L chia cho N 500.000đồng, L 3.500.000đồng. Sau khi đưa tiền chị B không liên lạc được với N và không vay được tiền.

Lần thứ hai: Ngày 12/10/2023 chị Đoàn Thị M gặp L tại trụ sở công ty của chị D tại khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, L giới thiệu là nhân viên ngân hàng làm hồ sơ vay thẻ tín dụng số tiền 500.000.000đồng cho chị M, sau khi viết thông tin xong L chuyển hồ sơ vay của chị B trong đó có phiếu thu thập thông tin khách hàng vay qua zalo cho N. Đến ngày 13/10/2023, N liên hệ gặp chị M và giới thiệu tên là T2 nhân viên thẩm định của ngân hàng, chụp hình giả vờ là thẩm định và yêu cầu chị M đưa số tiền 4.000.000đồng cho N. Sau khi nhận được 4.000.000đồng N đi về thông báo cho L biết, L chia cho N 500.000đồng, L 3.500.000đồng. Sau khi đưa tiền chị M không liên lạc được với N và không vay được tiền.

Lần thứ ba: Ngày 14/10/2023 anh Lê Phú C1 trú tại ấp C, xã X, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh liên hệ với L để làm hồ sơ vay tiền, sau khi làm hồ sơ xong long chuyển thông tin của anh C1 cho N. N liên hệ với anh C1 qua Zalo tên “Toàn T2” do N lập, giả là T2 nhân viên thẩm định của ngân hàng đến Công ty của C1 thẩm định và yêu cầu C1 đưa 3.500.000đồng tiền phí làm hồ sơ. Sau khi đưa 3.500.000đồng cho N thì C1 không liên lạc được và không vay được tiền. N nhận được tiền thông báo cho L, L cho N 500.000đồng, L 3.000.000đồng tiêu xài cá nhân hết.

Lần thứ tư: Ngày 16/10/2023 chị Võ Thị Anh T gặp L thì L giới thiệu là nhân viên ngân hàng làm hồ sơ vay thẻ tín dụng số tiền 500.000.000đồng, sau khi viết thông tin xong L chuyển thông tin vay của chị T cho N, N liên hệ gặp chị T giới thiệu tên là T2 nhân viên thẩm định của ngân hàng thẩm định và yêu cầu chị T đưa 3.500.000đồng phí thẩm định hồ sơ. Sau khi nhận được 3.500.000đồng N đi về thông báo cho L biết, L chia cho N 500.000đồng, L 3.000.000đồng. Sau khi đưa tiền chị T không liên lạc được với N và không vay được tiền.

Lần thứ năm: Ngày 14/10/2023 chị Nguyễn Thị Thu H2 liên hệ với L làm thủ tục vay vốn ngân hàng V, đến ngày 18/10/2023, L gửi hồ sơ vay tiền của chị H2 trong đó có phiếu thu thập thông tin khách hàng vay qua zalo cho N. Đến ngày 19/10/2023 N liên hệ và đến gặp chị H2 tại khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, Nam giới thiệu tên là T2 nhân viên thẩm định của ngân hàng, hướng dẫn chị H2 hoàn tất hồ sơ vay và yêu cầu chị H2 đưa 3.000.000đồng để đảm bảo khoản vay được giải ngân số tiền 300.000.000đồng. Tin tưởng N, chị H2 đưa cho N 3.000.000đồng. Khi N đang nhận số tiền 3.000.000đồng của chị H2 thì bị Lực lượng Công an thành phố Đ bắt quả tang, (bút lục 31 đến 32).

- Đối với 10 phiếu thông tin thu thập khách hàng L chuyển cho N gồm: Nguyễn Quang S, sinh năm 1992, địa chỉ: A L, xã T, phường T, thành phố Hồ Chí Minh; Phạm Quốc H4, sinh năm 1982, địa chỉ: Chung cư R, xã S, Quận T, thành phố Hồ Chí Minh; Phạm Công B2, sinh năm 1978, địa chỉ: E V, phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh; Trần Thị Ngọc D1, sinh năm 1978, địa chỉ: C L, Phường P, quận T, thành phố Hồ Chí Minh; Trần Thị Tuyết H5, sinh năm 1982, địa chỉ: B T, phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh; Đỗ Thị T3, sinh năm: 1985, địa chỉ: 1 khu phố S, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Phạm Thị Thanh T4, sinh năm 1983, địa chỉ: Thôn P, xã P, thị xã P, tỉnh Bình Phước. Lê Hữu N1, sinh năm: 1970, địa chỉ: Khu phố C, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước. Nguyễn Đức H6, sinh năm: 1976, địa chỉ: Khu phố E, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước. Nguyễn Thị T5, sinh năm: 1982, địa chỉ: Khu phố E, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước. Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ đã tiến hành xác minh nhưng hiện các bị hại Lê Hữu N1, Phạm Thị Thanh T4, Đỗ Thu T6, không có mặt tại địa phương, bị hại Nguyễn Đức H6, Nguyễn Thị T5, Trần Thị Tuyết H5, Phạm Quốc H4, Trần Thị Ngọc D1, Nguyễn Quang S, Phạm Công B2 không có đăng ký thường trú, tạm trú tại địa chỉ trên

- Đối với 05 phiếu thông tin thu thập khách hàng L chuyển cho N gồm: Nguyễn Thanh S1, sinh năm 1956, địa chỉ: 5 P, phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Thành L, sinh năm 1978, địa chỉ: 4 T, phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh; Đỗ Nguyên T7, sinh năm 1974, địa chỉ: 3 T, phường P, quận T, thành phố Hồ Chí Minh;. Lê Minh T8, sinh năm: 1996, địa chỉ: D L, phường G, quận T, thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Vũ H7, sinh năm: 1994, địa chỉ: 5 xã T, huyện N, tỉnh Cần Thơ. Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ đã ủy thác điều tra để làm việc, xác định số tiền bị chiếm đoạt nhưng đến nay chưa có kết quả.

Ngày 19/10/2023 chị Nguyễn Thị H2 làm đơn trình báo.

Đến ngày 15/01/2024 Nguyễn Thành L đã đến Công an thành phố Đ đầu thú (bút lục 307).

Tại bản cáo trạng số 106/CT-VKS ngày 04/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điểm d Khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Phương N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L, Nguyễn Phương N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Phương N mức án từ 1 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về hình phạt bổ sung do các bị cáo không có nghề nghiệp và đang bị tạm giam nên đề nghị không áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự: các bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì nên không xem xét.

Về vật chứng vụ án đề nghị:

Tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại Vivo, màu xanh, số sim: 0906.962.833 là phương tiện bị cáo N dùng thực hiện tội phạm.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Phương N: 01 căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Phương N; 01 Giấy phép lái xe số [...] mang tên Nguyễn Phương N; 01 thẻ ngân hàng A1 số 9704162470868520 mang tên Nguyễn Phương N; 01 hộ chiếu số B9456864, mang tên Nguyễn Phương N là tài sản cá nhân của bị cáo;

Trả lại cho Nguyễn Thị P1: 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe số 023041, tên chủ xe Nguyễn Thị P1; 01 xe mô tô, hiệu Yamaha, S2, biển số: 59K1-939.69.

Các bị cáo Nguyễn Thành L, Nguyễn Phương N tại phiên tòa đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, các bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản người phạm tội ra đầu thú, vật chứng của vụ án cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tranh tụng công khai tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do cần tiền tiêu xài cá nhân từ ngày 12/10/2023 đến ngày 19/10/2023 Nguyễn Thành L và Nguyễn Phương N bằng thủ đoạn gian dối, L lấy thông tin nhân thân, địa chỉ khách hàng có nhu cầu vay tiền trên facebook, zalo chuyển cho N để N giả danh người tên T2 là nhân viên thẩm định của Ngân hàng thương mại cổ phần V1 (V) đến trực tiếp gặp người vay giả vờ thẩm định tài sản yêu cầu người vay đưa tiền chi phí làm hồ sơ rồi chiếm đoạt tiền của 05 bị hại Nguyễn Thị B 4.000.000đồng, Đoàn Thị M 4.000.000đồng, Lê Phú C1 3.500.000đồng, Võ Thị Anh T 3.500.000đồng, Nguyễn Thị Thu H2 3.000.000đồng. Tổng số tiền chiếm đoạt 18.000.000đồng, các bị cáo chia nhau tiêu xài cá nhân hết.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo là người đã thành niên, hoàn toàn nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích để có tiền tiêu xài nên các bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của các bị hại, là khách thể được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, Nguyễn Thành L là người khởi sướng, hướng dẫn bị cáo N thực hiện hành vi phạm tội, bản thân bị cáo đã có 2 tiền án chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội nên phải chịu tình tiết định khung tăng nặng là tái phạm nguy hiểm nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài truy tố bị cáo về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ; Bị cáo Nguyễn Phương N khi được long khởi sướng việc thực hiện hành vi phạm tội đã nhiều lần cùng L thực hiện hành vi phạm tội nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ truy tố bị cáo về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 điều 174 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội nhiều lần, mỗi lần phạm tội đều đủ định lượng để truy tố theo khoản 1 điều 174 Bộ luật Hình sự nên phải chịu tình tiết tăng nặng theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Phương N có một tiền án về tội cướp tài sản chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Thành L có nhân thân xấu nhiều lần bị các Tòa án xử bằng hình phạt tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo Nguyễn Thành L đã đến công an đầu thú; đã bồi thường một phần thiệt hại khắc phục hậu quả. Do đó bị cáo Nguyễn Thành L được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Phương N được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự được Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

[5] Về quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử các bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn mới có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo.

[6] Đối với 03 khách hàng vay tiền Lê Hữu N1, Phạm Thị Thanh T4, Đỗ Thu T6, hiện không có mặt tại địa phương, chưa làm việc được nên chưa xác định được số tiền bị chiếm đoạt nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với 07 khách hàng vay tiền Nguyễn Đức H6, Nguyễn Thị T5, Trần Thị Tuyết H5, Phạm Quốc H4, Trần Thị Ngọc D1, Nguyễn Quang S, Phạm Công B2 không có đăng ký thường trú, tạm trú tại địa chỉ cung cấp trong phiếu thông tin thu thập khách hàng, chưa làm việc được nên chưa xác định được số tiền bị chiếm đoạt nên không có căn cứ để xử lý.

- Đối với 05 khách hàng vay tiền Nguyễn Thanh S1, Nguyễn Thành L, Đỗ Nguyên T7, Lê Minh T8, Nguyễn Vũ H7, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ đã ủy thác điều tra làm việc, xác định số tiền bị chiếm đoạt. Hiện chưa có kết quả nên không có căn cứ để xử lý.

- Đối với 04 khách hàng vay tiền Nguyễn Thị P1, Nguyễn Đức B1, Lê Thị Thu H3, Nguyễn Trung K, bị can L, N có làm thông tin vay và yêu cầu đưa tiền nhưng Nguyễn Thị P1, Nguyễn Đức B1, Lê Thị Thu H3, Nguyễn Trung K không đồng ý đưa tiền nên L, N không chiếm đoạt được tiền nên không đề cập xử lý.

- Đối với những người vay bị can L đã chuyển tiền để trả lại tiền đã chiếm đoạt Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ đã yêu cầu Ngân hàng cung cấp thông tin nhân thân, địa chỉ người nhận tiền để làm việc nhưng đến nay chưa có kết quả nên không có căn cứ để xử lý.

- Đối với bà Phan Thị Thùy D giới thiệu khách vay tiền cho bị can Nguyễn Thành L, D không biết L giả danh nhân viên ngân hàng lừa người vay để chiếm đoạt tiền nên không đề cập xử lý.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì nên không xem xét.

[8] Về vật chứng của vụ án:

Đối với 01 căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Phương N; 01 Giấy phép lái xe số [...] mang tên Nguyễn Phương N; 01 thẻ ngân hàng A1 số 9704162470868520 mang tên Nguyễn Phương N; 01 hộ chiếu số B9456864, mang tên Nguyễn Phương N là giấy tờ cá nhân của bị cáo N cần tuyên trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe số 023041, tên chủ xe Nguyễn Thị P1; 01 xe mô tô, hiệu Yamaha, S2, biển số: 59K1-939.69 là tài sản của chị P1 bị cáo N mượn để đi lại, chị P1 không biết bị cáo dùng để đi thực hiện tội phạm nên cần tuyên trả lại cho chị P1.

Đối với 01 điện thoại Vivo, màu xanh, số sim: 0906.962.833 bị cáo N dùng để thực hiện tội phạm nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

[9] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tại phiên tòa có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh:

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L, Nguyễn Phương N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

  2. Về hình phạt:

    - Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2024.

    Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Phương N 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/10/2023.

  3. Về trách nhiệm dân sự:

    Không.
  4. Về vật chứng vụ án:

    Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

    Trả lại cho bị cáo Nguyễn Phương N: 01 căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Phương N; 01 Giấy phép lái xe số [...] mang tên Nguyễn Phương N; 01 thẻ ngân hàng A1 số 9704162470868520 mang tên Nguyễn Phương N; 01 hộ chiếu số B9456864, mang tên Nguyễn Phương N;

    Trả lại cho Nguyễn Thị P1: 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe số 023041, tên chủ xe Nguyễn Thị P1; 01 xe mô tô, hiệu Yamaha, S2, biển số: 59K1-939.69,

    Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại Vivo, màu xanh, số sim: 0906.962.833.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0002272, quyển số 0046, ký hiệu D47/2017, ngày 05/7/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước).

  5. Về án phí sơ thẩm:

    Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo:

    Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND thành phố Đồng Xoài;
  • - VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - Chi cục THADS thành phố Đồng Xoài;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước.
  • - CA thành phố Đồng Xoài;
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh BP;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS-VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Đức Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2024/HS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 105/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đoả chiếm đoạ tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger