|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 105/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26/7/2024
V/v "Tranh chấp ly hôn".
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bảo Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Khánh Vinh
Ông Phạm Phú Trường Giang
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Phong Lan - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Ông Lâm Thành Them - Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 169/2023/TLST-HN ngày 27 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hà Thị T, sinh năm 1989.
- Bị đơn: Ông Chang Yuan C, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ: Số A, đường Đ, khóm C, phường T, thị trấn Đ, huyện V, Đài Loan (Trung Quốc).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 22/8/2023 và bản tự khai, nguyên đơn bà Hà Thị T trình bày và yêu cầu:
Vào tháng 7 năm 2022 bà và ông Chang Y Cheng quen nhau và tự nguyện đăng ký kết hôn nhân theo giấy chứng nhận kết hôn số 110 ngày 19/9/2022 tại Ủy ban nhân dân quận T, thành phố Cần Thơ. Sau khi kết hôn, ông Chang Yuan C trở về Đài Loan, còn bà vẫn sinh sống tại Việt Nam và hai bên chỉ liên lạc nhau qua điện thoại. Do bà và ông Chang Yuan C có thời gian tìm hiểu ngắn, chưa hiểu rõ tính cách của nhau, mỗi người ở một nơi, phần vì không hòa hợp về ngôn ngữ, phong tục tập quán, nên từ lúc đăng ký kết hôn đến nay giữa bà và ông Chang Y Cheng thường xảy ra mâu thuẫn, bất hòa, không còn tình cảm, không có hạnh phúc.
Vì mục đích hôn nhân không đạt được nên sau khi suy nghĩa kỹ, bà làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Chang Yuan C để chấm dứt sự ràng buộc về pháp lý, trả tự do cho đôi bên.
Về con chung, tài sản và nợ chung: Bà và ông Chang Yuan C không có con chung, không tạo lập được tài sản chung, nợ chung nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Chang Yuan C vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến phản hồi về việc bà T xin ly hôn với ông.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ:
Những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án nhận thấy, giữa nguyên đơn và bị đơn sinh sống ở hai quốc gia khác nhau, không quan tâm, thương yêu, quý trọng giúp đỡ lẫn nhau, xảy ra mâu thuẩn không thể hòa giải, hàn gắn được. Hôn nhân giữa đôi bên không còn tồn tại trên thực tế mà chỉ tồn tại về mặt pháp lý, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn xin ly hôn với bị đơn là phù hợp. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Hà Thị T được ly hôn với ông Chang Yuan C. Nguyên đơn trình bày không có con chung, tài sản chung, nợ chung nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Hà Thị T khởi kiện xin ly hôn với ông Chang Y Cheng cư trú tại Đài Loan, căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 37 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
Bà T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, còn ông Chang Yuan C đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt (thủ tục thông báo, tống đạt của Tòa án đối với phía bị đơn đã hoàn tất, tại văn bản số 1130005710 ngày 05/03/2024 của Bộ Tư Pháp Lãnh thổ Đài Loan: "Cơ quan có thẩm quyền của lãnh thổ Đài Loan đã thực hiện ủy thác tư pháp nêu trên vào ngày 23/02/2024 bằng phương thức: Gởi hồ sơ ủy thác tư pháp tại đồn Công an”. Tuy nhiên cho đến thời điểm xét xử, ông Chang Yuan C cũng không có ý kiến phản hồi. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là phù hợp.
[2] Về hôn nhân: Bà Hà Thị T và ông Chang Yuan C xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận T, thành phố Cần Thơ (Việt Nam) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 110 ngày 19/9/2022 nên xác định là hôn nhân hợp pháp. Theo bà T trình bày, sau khi kết hôn, ông Chang Yuan C về Đài Loan còn bà vẫn sinh sống tại Việt Nam. Bà và ông Chang Yuan C chỉ liên lạc với nhau qua điện thoại. Do bà và ông Chang Yuan C có thời gian tìm hiểu ngắn, chưa hiểu rõ tính cách của nhau, mỗi người ở một nơi, phần vì không hòa hợp về ngôn ngữ, phong tục tập quán, nên từ lúc đăng ký kết hôn đến nay giữa bà và ông Chang Y Cheng thường xảy ra mâu thuẫn, bất hòa, không còn tình cảm, không có hạnh phúc.
Xét thấy, giữa bà T và ông Chang Yuan C sau khi kết hôn ông Chang Yuan C về Đài Loan sinh sống, còn bà T ở lại Việt Nam, giữa hai người sống ly thân, không quan tâm, liên lạc gì với nhau, không mong muốn giữ gìn níu kéo quan hệ hôn nhân, tình cảm phai nhạt nên lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho bà T được ly hôn với ông Chang Yuan C là phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, nếu có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
[4] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng và lệ phí ủy thác là 200.000 đồng, nguyên đơn phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, khoản 4, Điều 147, Điều 153, khoản 2 Điều 227, khoản 5 Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hà Thị T.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Hà Thị T được ly hôn với ông Chang Yuan C.
- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Hà Thị T trình bày không có nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Hà Thị T phải chịu 300.000 đồng, được chuyển số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001987 ngày 17/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ sang án phí, bà T đã nộp đủ án phí.
- Về lệ phí ủy thác: Bà Hà Thị T phải chịu, công nhận đã nộp xong 200.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000058 ngày 15/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.
- Về quyền kháng cáo:
- Bà T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết.
- Ông Chang Yuan C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm theo luật định./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Bảo Anh |
Bản án số 105/2024/HNGĐ-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 105/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận ly hôn
