TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 105/2024/DS-PT
Ngày: 26-7-2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tâm
Các Thẩm phán:
Bà Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc
Bà Nguyễn Thị Bích Thảo
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Huyền Trang - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Ông Trần Minh Công - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 107/2024/TLPT-DS ngày 26 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2024/DS-ST ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Bảo Lâm bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 245/2024/QĐ-PT ngày 26 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thanh N, sinh năm: 1983. Địa chỉ: Số A đường H, Phường A, Thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Xuân L, sinh năm: 1966. Địa chỉ: A L, Phường A, Thành phố B, Lâm Đồng. Theo văn bản ủy quyền ngày 25/12/2023. Có đơn xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Trần Thị N1, sinh năm: 1959. Địa chỉ: Số B đường L, Tổ B, thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Trần Đức C; sinh năm 1987; Địa chỉ: tổ B, thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Theo giấy ủy quyền ngày 16-7-2024. Có mặt.
- Người kháng cáo: Bà Trần Thị N1 - Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Lê Thị Thanh N trình bày: Vào ngày 27/02/2021 bà N và bà N1 có thỏa thuận lập 01 Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Theo hợp đồng tài sản chuyển nhượng là diện tích 1.464,4m² đất nông nghiệp thuộc một phần thửa đất số 182, tờ bản đồ số 100 tọa lạc tại Tổ E, thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng với giá chuyển nhượng là 1.900.000.000đ, bà N đã đặt cọc cho bà N1 số tiền 100.000.000đ và thỏa thuận trong thời hạn 90 ngày mà không ra được sổ thì bà N1 hoàn lại số tiền 100.000.000đ tiền cọc đã nhận cho bà N. Trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày 27/02/2021 đến ngày 27/5/2021 bà N1 phải có trách nhiệm tách sổ và hai bên sẽ ra phòng công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, sau khi ký hợp đồng bà N phải thanh toán cho bà N1 số tiền 1.700.000.000đ, bà N giữ lại của bà N1 số tiền 100.000.000đ. Tuy nhiên, đến ngày 29/5/2021 và ngày 04/6/2021, bà N1 gọi điện cho bà N báo vẫn chưa tách xong sổ nên bà có thông báo yêu cầu bà N1 trả lại số tiền cọc. Nay bà N khởi kiện yêu cầu hủy Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất lập ngày 27/02/2021 và yêu cầu trả lại số tiền đặt cọc đã nhận 100.000.000đ, không yêu cầu phạt cọc. Bà đồng ý thanh toán giá trị 30 cây cà phê ghép Thiện T trồng năm thứ 4 cho bà N1 với giá theo Quyết định số 38/2023/QĐ-UBND ngày 16 tháng 5 năm 2023 của UBND tỉnh L là 389.700đ/cây x 30 cây = 11.691.000đ.
Bị đơn bà Trần Thị N1 trình bày: Bà thống nhất như lời trình bày của nguyên đơn về việc thỏa thuận lập hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 27/02/2021. Nay bà N khởi kiện thì bà N1 đồng ý hủy hợp đồng đặt cọc và đồng ý trả lại cho bà N số tiền đặt cọc đã nhận là 100.000.000đ nhưng đề nghị trừ cho bà giá trị 30 cây cà phê ghép Thiện T trồng năm thứ 4 là 50.000.000đ; còn lại bà N1 đồng ý trả lại cho bà N số tiền 50.000.000đ.
Tại Bản án sơ thẩm số 33/2024/DS-ST ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm đã xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thanh N đối với bà Trần Thị N1 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
Hủy hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất lập ngày 27/02/2021 giữa bà Lê Thị Thanh N và bà Trần Thị N1.
Buộc bà Trần Thị N1 phải có trách nhiệm trả lại cho bà Lê Thị Thanh N số tiền đặt cọc đã nhận là 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng).
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí, trách nhiệm thi hành án quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 13/5/2024, bà Trần Thị N1 kháng cáo không đồng ý trả lại 100.000.000₫ tiền cọc và yêu cầu nguyên đơn bồi thường giá trị 30 cây cà phê là 10.000.000đ.
Tại phiên tòa,
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự tại giai đoạn phúc thẩm cũng như phiên tòa hôm nay: đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo đị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xuất phát từ việc bà Lê Thị Thanh N khởi kiện yêu cầu hủy Hợp đồng đặt cọc lập ngày 27/02/2021 và yêu cầu bà Trần Thị N1 trả lại số tiền đặt cọc đã nhận là 100.000.000đ và đồng ý thanh toán giá trị 30 cây cà phê ghép Thiện T trồng năm thứ 4 cho bà N1 với giá 11.691.000đ. Còn bị đơn bà Trần Thị N1 đồng ý hủy hợp đồng đặt cọc và đề nghị bà N có nghĩa vụ bồi thường cho bà số tiền 50.000.000đ cây cà phê bị chặt và đồng ý trả lại số tiền 50.000.000đ nên các bên phát sinh tranh chấp. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” là có căn cứ.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị N1 thấy rằng:
[2.1] Ngày 27/02/2021, giữa bà N và bà N1 có thỏa thuận ký hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích 1.464,4m² đất nông nghiệp thuộc một phần thửa đất số 182, tờ bản đồ số 100 tọa lạc tại tổ E, thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng giá chuyển nhượng 1.900.000.000đ. Bà N đã đặt cọc cho bà N1 số tiền 100.000.000đ và thỏa thuận trong thời hạn 90 ngày mà không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà N1 hoàn lại số tiền 100.000.000đ đã nhận cho bà N. Trong quá trình giải quyết vụ án, các bên thừa nhận có ký kết hợp đồng đặc cọc nói trên và bà N1 có nhận của bà N số tiền 100.000.000đ, bà N có chặt 30 cây cà phê của bà N1. Xét đây là những tình tiết được các bên thừa nhận nên không phải chứng minh.
[2.2] Theo các tin nhắn mà bà N đã gửi cho bà N1 (bút lục 33-36) thể hiện: do bà N1 không thực hiện được việc tách thửa và ra sổ trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày ký kết hợp đồng đặc cọc nên giữa bà N và bà N1 thỏa thuận hủy hợp đồng đặt cọc và bà N1 cũng đồng ý. Như vậy, các bên đã thỏa thuận đồng ý hủy hợp đồng đặc cọc, hợp đồng không phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm ký kết nên các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận theo quy định tại Điều 427 Bộ luật dân sự năm 2015. Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N để hủy hợp đồng đặt cọc nói trên và buộc bà N1 có nghĩa vụ trả lại cho bà N số tiền 100.000.000₫ là có căn cứ.
[2.3] Đối với giá trị cây cà phê ghép Thiện Tường trồng năm thứ 4: bà N đồng ý thanh toán cho bà N1 11.691.000đ, còn bà N1 yêu cầu thanh toán 50.000.000đ nên các bên có tranh chấp về giá trị bồi thường này. Tại cấp sơ thẩm, bà N1 đã được giải thích các quy định của pháp luật liên quan đến việc hoàn lại giá trị cây trồng trên đất nhưng bà không có yêu cầu định giá để xác định cụ thể giá trị cây trồng bị thiệt hại nên cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết. Trường hợp bà N1 có tranh chấp thì được quyền khởi kiện giải quyết bằng vụ án khác.
[2.4] Từ những phân tích trên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị N1.
[3] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận, bị đơn bà Trần Thị N1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Do bà N1 trên 60 tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị N1.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 33/2024/DS-ST ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thanh N đối với bà Trần Thị N1 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
Hủy hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với lập lập ngày 27/02/2021 giữa bà Lê Thị Thanh N và bà Trần Thị N1
Buộc bà Trần Thị N1 phải có trách nhiệm trả lại cho bà Lê Thị Thanh N số tiền đặt cọc đã nhận là 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự
- Về án phí:
Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm cho bà Trần Thị N1.
Hoàn trả cho bà Lê Thị Thanh N số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.500.000₫ theo biên lai thu số 0006769 ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành Án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Tâm |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Tâm |
Bản án số 105/2024/DS-PT ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 105/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: y án sơ thẩm
