|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 105/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 25/6/2024
V/v tranh chấp “Ly hôn và nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Kim Duyên.
- Bà Đinh Thị Kim Phụng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Thanh Tùng – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Trưởng Bảo Vy - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 26/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 124/2024/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Văn H, sinh năm 1969 (Xin vắng mặt);
Địa chỉ: ấp L, xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang;
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Lệ D, sinh năm 1970 (Vắng mặt);
Địa chỉ: ấp L, xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN :
* Theo đơn xin ly hôn và trong quá trình tố tụng nguyên đơn anh Trần Văn H trình bày: Anh và chị D tự tìm hiểu nhau và tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và chung sống với nhau từ năm 1992. Có đăng ký kết hôn và được UBND xã B, huyện G (N xã B, thành phố G) cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 45/HT ngày 20/6/2005. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do không có tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, anh và chị D đã nhiều lần hàn gắn lại tình cảm nhưng không thành. Nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với nhau, nay anh yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về hôn nhân: Anh yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị Lệ D.
- Về con chung: Có 03 con chung tên Trần Thị Kim T, sinh năm 1993, Trần Thị Lệ H1, sinh năm 1995 và Trần Trung H2, sinh năm 2002 đều đã trưởng thành.
- Về tài sản chung : Tự thỏa thuận.
- Về nợ chung: Không có.
* Bị đơn chị Nguyễn Thị Lệ D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng chị D không đến dự phiên tòa cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến về việc anh H xin ly hôn với chị. Toà án tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu trình tự, thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý và xét xử vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Căn cứ vào Điều 56, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của anh H; Về hôn nhân: Anh H được ly hôn với chị D; Về con chung: 03 con chung tên Trần Thị Kim T, sinh năm 1993, Trần Thị Lệ H1, sinh năm 1995 và Trần Trung H2, sinh năm 2002 đều đã trưởng thành nên không xem xét. Đối với tài sản chung và nợ chung không yêu cầu nên không xem xét. Về án phí anh H chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Trần Văn H có đơn đề nghị giải quyết việc ly hôn giữa anh và chị Nguyễn Thị Lệ D có địa chỉ: ấp L, xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
[1.1] Anh Trần Văn H có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Nguyễn Thị Lệ D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh H và chị D.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn H và chị Nguyễn Thị Lệ D kết hôn với nhau được Ủy ban nhân dân xã B cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 45/HT ngày 20/6/2005 là hôn nhân hợp pháp. Nay anh H yêu cầu ly hôn cần được xem xét giải quyết theo quy định Luật Hôn nhân và Gia đình.
Nhận thấy vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, theo anh H trình bày, nguyên nhân do không có tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, anh và chị D đã nhiều lần hàn gắn lại tình cảm nhưng không thành. Tòa án đã nhiều lần triệu tập chị D để hòa giải tạo điều kiện để anh chị hàn gắn tình cảm vợ chồng. Mặc dù, Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng chị D không đến để trình bày ý kiến về việc anh H xin ly hôn, chứng tỏ chị D không còn thiết tha hàn gắn tình cảm với anh H. Xét thấy, tình cảm vợ chồng phải xuất phát từ hai phía, một bên đã không còn tình cảm mà kéo dài hôn nhân sẽ không mang lại hạnh phúc cho cả hai anh chị. Mâu thuẫn vợ chồng anh H và chị D đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh H.
[2.2] Về con chung: Có 03 con chung tên Trần Thị Kim T, sinh năm 1993, Trần Thị Lệ H1, sinh năm 1995 và Trần Trung H2, sinh năm 2002 đều đã trưởng thành.
Hội đồng xét xử xét thấy 03 con chung tên Trần Thị Kim T, sinh năm 1993, Trần Thị Lệ H1, sinh năm 1995 và Trần Trung H2, sinh năm 2002 đều đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Lệ D có khởi kiện phản tố theo đơn đề ngày 08/4/2024 nộp qua đường bưu điện về việc chia tài sản chung giữa anh H và chị D. Đến ngày 15/7/2024 thì chị D có đơn đề nghị rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện phản tố trên nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[2.4] Về nợ chung : Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
[3] Về án phí: Anh Trần Văn H là nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH :
- Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn H.
- Về hôn nhân: Anh Trần Văn H được ly hôn với chị Nguyễn Thị Lệ D.
- Về án phí: Anh Trần Văn H phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0000694 ngày 05/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Gò Công (Nay là thành phố G). Như vậy, anh Trần Văn H đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Anh Trần Văn H và chị Nguyễn Thị Lệ D có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Thu Thúy |
Bản án số 105/2024/HNGĐ-ST ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 105/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
