Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

Bản án số: 105/2024/DS-PT

Ngày 25-04-2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín

dụng và yêu cầu hủy kết quả

đấu giá”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Thúy Nga.

Các Thẩm phán: Bà Tôn Thị Thanh Thúy

Ông Phạm Thanh Tùng

Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Mỹ Yên – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Sơn Cươl- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 324/2023/TLPT-DS ngày 06 tháng 12 năm 2023, về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và yêu cầu hủy kết quả đấu giá”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 122/2023/DS-ST, ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 397/2023/QĐ-PT ngày 26 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần () Quân đội (MB).

Địa chỉ trụ sở chính: Số A L, phường T, quận C, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Thanh T – Chuyên viên xử lý nợ của Ngân hàng TMCP ( (MBAMC) (Theo Hợp đồng ủy quyền số 154/UQ.MB-MBAMC ngày 18/3/2021; Hợp đồng ủy quyền số 129/UQ.MB-MBAMC ngày 13/4/2023 của Ngân hàng TMCP ( ủy quyền cho Công ty TNHH ( và khai thác tài sản Ngân hàng TMCP ( và Văn bản ủy quyền số 1092/UQ-MBAMC-TNB ngày 28/8/2023).(có mặt)

Địa chỉ: Tầng C, tòa nhà S V, phường T, quận N, Thành phố Cần Thơ.

Bị đơn: 1/ Ông Huỳnh Minh H, sinh năm 1983 (vắng mặt)

2/ Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1990 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp B, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Huỳnh Minh H: Ông Lương Văn N, sinh năm 1976 (có mặt).

Địa chỉ: Số A L, khóm D, phường A, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Công ty TNHH ( và Khai thác tài sản Ngân hàng TMCP ( (viết tắt là MBAMC).

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Thanh T – Chuyên viên xử lý nợ của Ngân hàng TMCP ( (Theo Văn bản ủy quyền số 1092/UQ-MBAMC-TNB ngày 28/8/2023) (có mặt).

Địa chỉ: Tầng C, tòa nhà S V, phường T, quận N, Thành phố Cần Thơ.

2/ Công ty Đ (viết tắt MAPC)

Địa chỉ: Số E khu dân cư H, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.

Địa chỉ trụ sở cũ: Số A, đường số B, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

Địa chỉ trụ sở mới: Số C, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ

Người đại diện hợp pháp: Ông Lại Văn S, sinh năm 1991

Địa chỉ: Số C, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (có mặt)

3/ Bà Huỳnh Thị Cẩm H1, sinh năm 1973

Địa chỉ: Số A N, khu phố H, phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang (Có mặt).

Người kháng cáo: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần () Quân đội (MB) và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty Đ (MAPC).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 07/72021, biên bản hòa giải ngày 07/4/2023, theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần ( (viết tắt là Ngân hàng TMCP (), đồng thời đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH ( và Khai thác tài sản Ngân hàng TMCP ( là ông Đinh Thanh T trình bày:

Bên cho vay là Ngân hàng TMCP ( ông Huỳnh Minh H, bà Nguyễn Thị M đã ký kết hợp đồng tín dụng cùng khế ước nhận nợ như sau:

  1. Hợp đồng tín dụng số 829457.19.670.4833924.TD ngày 24/01/2019:
  2. Số khế ước: LD1902552320, Số tiền vay: 1.400.000.000 đồng, mục đích vay: Vay bù đắp tiền mua đất, ngày nhận nợ 25/01/2019, lãi suất: 12%/năm. Ngày đến hạn: 25/01/2039.

  3. Hợp đồng tín dụng số 838327.19.670.4833924.TD ngày 27/02/2019: Số khế ước: LD1905940538, Số tiền vay: 1.400.000.000 đồng, mục đích vay: Vay bù đắp tiền mua đất, ngày nhận nợ: ngày 25/02/2019, lãi suất: 10.5%/năm. Ngày đến hạn: 28/02/2029.

Tài sản bảo đảm:

  • Toàn bộ quyền sử dụng đất (QSD đất) tại ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Sóc Trăng: Thửa đất số 690, tờ bản đồ số 03, diện tích 2.057m². Giấy chứng nhận QSD đất số AC 708973 do Ủy ban nhân dân (UBND) huyện V cấp ngày 13/7/2005.
  • Toàn bộ QSD đất tại ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Sóc Trăng: Thửa đất số 689, tờ bản đồ số 03, diện tích 916,3m². Giấy chứng nhận QSD đất số AK 917362 do UBND huyện V cấp ngày 11/12/2007.
  • Toàn bộ QSD đất tại ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Sóc Trăng: Thửa đất số 693, tờ bản đồ số 03, diện tích 172.9m². Giấy chứng nhận QSD đất số AC 8730313 do UBND huyện V cấp ngày 11/12/2007.

Việc thế chấp các tài sản trên được thực hiện theo các Hợp đồng thế chấp số: 829459.19.670.4833924.BĐ ký ngày 24/01/2019 và hợp đồng thế chấp số 838328.19.670.4833924.BÐ ký ngày 27/02/2019.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông H và bà M không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như cam kết.

Tạm tính đến ngày 18/6/2021, ông H và bà M đã trả cho Ngân hàng tổng cộng số tiền 669.665.171 đồng của 02 hợp đồng tín dụng cụ thể:

  • Trả theo Hợp đồng tín dụng số 829457.19.670.4833924.TD ngày 24/01/2019: Nợ gốc đã trả 93.328.000 đồng, nợ lãi đã trả: 236.210.186 đồng. Tổng cộng 329.538.186 đồng.
  • Trả theo Hợp đồng tín dụng số 838327.19.670.4833924.TD ngày 27/02/2019: Nợ gốc đã trả 163.425.961 đồng, nợ lãi đã trả: 176.701.024 đồng. Tổng cộng 340.126.985 đồng.

Tạm tính đến ngày 18/6/2021 dư nợ khoản vay ông Huỳnh Minh H và bà Nguyễn Thị M nợ của Ngân hàng là:

  • Hợp đồng tín dụng số 829457.19.670.4833924.TD ngày 24/01/2019: Nợ gốc: 1.306.672.000 đồng. Nợ lãi trong hạn: 4.733.250 đồng. Nợ lãi quá hạn: 176.564.986 đồng. Phạt chậm trả lãi: 12.366.760 đồng. Tổng cộng: 1.500.336.996 đồng.
  • Hợp đồng tín dụng số 838327.19.670.4833924.TD ngày 27/02/2019: Nợ gốc: 1.236.574.039 đồng. Nợ lãi trong hạn: 3.662.216 đồng. Nợ lãi quá hạn: 163.382.544 đồng. Phạt chậm trả lãi: 10.849.910 đồng. Tổng cộng: 1.414.468.709 đồng.

Theo đơn khởi kiện ngày 07/7/2021 Ngân hàng TMCP ( yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Huỳnh Minh H và bà Nguyễn Thị M thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng các khoản nợ theo hợp đồng cho vay đã ký kết với số tiền tạm tính đến ngày 18/6/2021 là: 2.914.805.705 đồng (Trong đó: Nợ gốc: 2.543.246.039, nợ lãi trong hạn: 8.395.466 đồng. Nợ lãi quá hạn: 339.947.530 đồng. Phạt chậm trả lãi: 23.216.670 đồng). Buộc bên vay phải tiếp tục trả lãi cho Ngân hàng đối với tiền lãi phát sinh tính theo lãi suất thỏa thuận quy định trong hợp đồng tín dụng. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, ông H và bà M không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền đề nghị Cơ quan có thẩm quyền phát

mại tài sản để thu hồi nợ. Trong trường hợp số tiền phát mại thu hồi nợ không đủ trả nợ thì ông H và bà M phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

Đến khi khởi kiện ngày 07/7/2021 thì bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Các bên không thỏa thuận được phương thức thanh toán nợ, không thỏa thuận được cách xử lý tài sản thế chấp. Do đó, Ngân hàng ra quyết định số 58/QĐ-MB-STR ngày 29/7/2020 giao cho Công ty TNHH ( nợ và khai thác tài sản Ngân hàng TMCP ( thu giữ tài sản. Đến ngày 07/7/2021 thì Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông H và bà M thanh toán nợ cho Ngân hàng và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp, đồng thời Ngân hàng tiến hành bán đấu giá tài sản thế chấp của bị đơn căn cứ vào Luật các tổ chức tín dụng; Luật đấu giá số 01/2016.QH14 năm 2016; căn cứ vào giao kết theo hợp đồng thế chấp.

Đến ngày 09/02/2022 Ngân hàng TMCP ( rút lại một phần yêu cầu khởi kiện tại mục 3 phần II của đơn yêu cầu khởi kiện ngày 07/7/2021, không yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm thế chấp là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất được nêu tại mục 2 phần I của đơn khởi kiện ngày 07/7/2021.

Đến ngày 21/3/2022 Ngân hàng TMCP ( rút lại một phần yêu cầu khởi kiện tại mục 1 phần II của đơn yêu cầu khởi kiện ngày 07/7/2021 với nội dung giảm số tiền yêu cầu ông Huỳnh Minh H, bà Nguyễn Thị M thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP ( tạm tính đến ngày 18/6/2021 từ số tiền 2.914.805.705 đồng (Trong đó: Nợ gốc: 2.543.246.039, nợ lãi trong hạn: 8.395.466 đồng, nợ lãi quá hạn: 339.947.530 đồng. Phạt chậm trả lãi: 23.216.670 đồng). Chỉ yêu cầu ông H, bà M thanh toán tiền nợ lãi tạm tính đến hết ngày 18/6/2021 với số tiền lãi 371.805.705 đồng (trong đó: nợ lãi trong hạn 8.641.505 đồng, nợ lãi quá hạn 339.947.530 đồng, phạt chậm trả lãi 23.216.670 đồng) và yêu cầu trả nợ lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án giài quyết buộc ông Huỳnh Minh H và bà Nguyễn Thị M thanh toán số tiền lãi tạm tính đến hết ngày 18/6/2021 nêu trên và tiếp tục trả tiền lãi phát sinh đến hết ngày 30/8/2023 với số tiền 680.470.340 đồng (trong đó: Nợ gốc: 2 đồng, nợ lãi quá hạn: 561.180.322 đồng, nợ lãi chậm trả 119.290.016 đồng) và yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh theo lãi suất thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng số 829457.19.670.4833924.TD ngày 24/01/2019 và hợp đồng tín dụng số 838327.19.670.4833924.TD ngày 27/02/2021 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP (.

- Tại đơn phản tố của bị đơn ngày 15/6/2022, tại biên bản hòa giải ngày 07/4/2023, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Huỳnh Minh H là ông Lương Văn N trình bày: Ông Huỳnh

Minh H và bà Nguyễn Thị M có ký các hợp đồng tín dụng vay tiền của Ngân hàng TMCP ( theo như đơn khởi kiện ngày 07/7/2021 và theo lời trình bày của đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng ( là đúng, cụ thể:

  1. Hợp đồng tín dụng số 829457.19.670.4833924.TD ngày 24/01/2019: Số khế ước: LD1902552320, số tiền vay: 1.400.000.000 đồng, mục đích vay: Vay bù đắp tiền mua đất, ngày nhận nợ: ngày 25/01/2019, lãi suất: 12%/năm. Ngày đến hạn: 25/01/2039.
  2. Hợp đồng tín dụng số 838327.19.670.4833924.TD ngày 27/02/2019: Số khế ước: LD1905940538, số tiền vay: 1.400.000.000 đồng, mục đích vay: Vay bù đắp tiền mua đất, ngày nhận nợ: ngày 25/02/2019, lãi suất: 10.5%/năm. Ngày đến hạn: 28/02/2029.

Tài sản bảo đảm:

  • Toàn bộ quyền sử dụng đất (QSD đất) tại ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Sóc Trăng: Thửa đất số 690, tờ bản đồ số 03, diện tích 2.057m². Giấy chứng nhận QSD đất số AC 708973 do Ủy ban nhân dân (UBND) huyện V cấp ngày 13/7/2005.
  • Toàn bộ QSD đất tại ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Sóc Trăng: Thửa đất số 689, tờ bản đồ số 03, diện tích 916,3m². Giấy chứng nhận QSD đất số AK 917362 do UBND huyện V cấp ngày 11/12/2007.
  • Toàn bộ QSD đất tại ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Sóc Trăng: Thửa đất số 693, tờ bản đồ số 03, diện tích 172.9m². Giấy chứng nhận QSD đất số AC 8730313 do UBND huyện V cấp ngày 11/12/2007.

Việc thế chấp các tài sản trên được thực hiện theo các Hợp đồng thế chấp số: 829459.19.670.4833924.BĐ ký ngày 24/01/2019 và hợp đồng thế chấp số 838328.19.670.4833924.BÐ ký ngày 27/02/2019.

Tạm tính đến ngày 18/6/2021, ông H và bà M đã trả cho Ngân hàng số tiền là 669.665.171 đồng tại 02 hợp đồng tín dụng, cụ thể:

  • Hợp đồng tín dụng số 829457.19.670.4833924.TD ngày 24/01/2019: Nợ gốc đã trả 93.328.000 đồng, nợ lãi đã trả: 236.210.186 đồng. Tổng cộng 329.538.186 đồng.
  • Hợp đồng tín dụng số 838327.19.670.4833924.TD ngày 27/02/2019: Nợ gốc đã trả 163.425.961 đồng, nợ lãi đã trả: 176.701.024 đồng. Tổng cộng 340.126.985 đồng.

Khi Ngân hàng TMCP ( khởi kiện ông H, bà M yêu cầu thanh toán nợ và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp. Tòa án đang giải quyết vụ án thì Ngân hàng đồng thời xử lý tài sản thế chấp nêu trên, đã bán đấu giá các thửa đất 690, 689 và 693 nêu trên của ông H và bà M cho người mua là bà Huỳnh Thị Cẩm H1.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Huỳnh Minh H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP ( về việc yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Huỳnh Minh H và bà Nguyễn Thị M thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền lãi tạm tính đến hết ngày 30/8/2023 tổng số 680.470.340 đồng (Trong đó: Nợ gốc: 2 đồng, nợ lãi quá hạn: 561.180.322 đồng, nợ lãi chậm trả 119.290.016 đồng) và yêu cầu tính lãi phát sinh theo lãi suất thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng số 829457.19.670.4833924.TD ngày 24/01/2019 và hợp đồng tín dụng số 838327.19.670.4833924.TD ngày 27/02/2021 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP (.

Bị đơn ông Huỳnh Minh H giữ nguyên yêu cầu phản tố ngày 15/6/2022, yêu cầu Tòa án giải quyết hủy kết quả bán đấu giá tài sản tại các Quyền sử dụng đất theo thông báo số 44/TB-MBAMC-TNB ngày 11/02/2022 của Công ty ( và khai thác nợ thuộc Ngân hàng (, theo Công văn số 138/CV-MBAMC-TNB ngày 15/3/2022 của Công ty quản lý và khai thác nợ thuộc Ngân hàng ( bao gồm các thửa đất số 690, tờ bản đồ số 03, diện tích 2.057m², tại thửa đất số 689, tờ bản đồ số 03, diện tích 916,3m² và hủy kết quả bán đấu giá tài sản là QSD đất tại thửa đất số 693, tờ bản đồ số 03, diện tích 172.9m² do ông Huỳnh Minh H và bà Nguyễn Thị M đứng tên. Vì việc Ngân hàng đấu giá tài sản các QSD đất làm ảnh hưởng đến quyền định đoạt của vợ chồng ông H, bà M.

Do trước đây bị đơn không nhận được Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá số 80/22/HĐMB-MK ngày 21/02/2022 được chứng thực ngày 22/02/2022 giữa công ty TNHH ( và khai thác tài sản của Ngân hàng ( và bà Huỳnh Thị Cẩm H1. Nay bị đơn bổ sung yêu cầu phản tố về yêu cầu hủy kết quả đấu giá đối với Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá số 80/22/HĐMB-MK ngày 21/12/2022 được chứng thực ngày 22/8/2022 giữa công ty TNHH ( và khai thác tài sản của Ngân hàng ( và bà Huỳnh Thị Cẩm H1.

- Tại biên bản hòa giải ngày 07/4/2023 và tại phiên tòa sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Cẩm H1 trình bày: Bà Huỳnh Thị Cẩm H1 đã đấu giá và chuyển nhượng toàn bộ QSD đất tại ấp V, xã V, huyện V (nay là khóm V, phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng). Thửa đất số 690, tờ bản đồ số 03, diện tích 2.057m² theo giấy chứng nhận QSD đất số AC 708973 do UBND huyện V cấp ngày 13/7/2005 cho ông Phan Chí D và bà Huỳnh Thị L, chuyển nhượng cho ông Huỳnh Minh H và bà Nguyễn Thị M ngày 20/12/2018; Thửa đất số 689, tờ bản đồ số 03, diện tích 916,3m² theo giấy chứng nhận QSD đất số AK 917362 do UBND huyện V cấp ngày 11/12/2007 cho bà Kha Thị Bạch Y, chuyển nhượng cho ông Huỳnh Minh H và bà Nguyễn Thị M ngày 21/02/2019; Thửa đất số 693, tờ bản đồ số 03, diện tích 172.9m² theo giấy chứng nhận QSD đất số AC 8730313 do UBND huyện V cấp

ngày 07/01/2008 cho bà Kha Thị Bạch Y, chuyển nhượng cho ông Huỳnh Minh H và bà Nguyễn Thị M ngày 21/02/2019.

Nay bà H1 không đồng ý với yêu cầu phản tố của bị đơn ông Huỳnh Minh H về việc yêu cầu Tòa án giải quyết hủy kết quả bán đấu giá tài sản theo thông báo số 44/TB-MBAMC-TNB ngày 11/02/2022 của Công ty ( và khai thác nợ thuộc Ngân hàng (, theo Công văn số 138/CV-MBAMC-TNB ngày 15/3/2022 của Công ty quản lý và khai thác nợ thuộc Ngân hàng ( và không đồng ý với yêu cầu hủy kết quả đấu giá theo Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá số 80/22/HĐMB-MK ngày 21/02/2022 được chứng thực ngày 22/02/2022 giữa công ty TNHH ( và khai thác tài sản của Ngân hàng ( và bà Huỳnh Thị Cẩm H1 bao gồm: Các thửa đất số 690, tờ bản đồ số 03, diện tích 2.057m², thửa đất số 689, tờ bản đồ số 03, diện tích 916,3m², thửa đất số 693, tờ bản đồ số 03, diện tích 172.9m² do ông Huỳnh Minh H và bà Nguyễn Thị M đứng tên thế chấp cho Ngân hàng. Vì bà H1 đấu giá và chuyển nhượng các thửa đất nêu trên đúng trình tự quy định của pháp luật.

- Tại Văn bản số 375/22/CV-MK ngày 09/11/2022 Công ty Đ (gọi tắt là Công ty Đ) trình bày ý kiến:

  • Vào ngày 12/11/2020 Công ty Đ nhận được công văn số 1326/CV- MBAMC-TNB của Công ty TNHH ( - Chi nhánh T2 (M2) về việc đề nghị bán đấu giá tài sản là toàn bộ quyền sử dụng đất với tổng diện tích: 3.146,2m² là tài sản bảo đảm khoản vay của ông Huỳnh Minh H và bà Nguyễn Thị M với tổng giá khởi điểm là 3.410.000.000 đồng.
  • Ngày 13/11/2020, Công ty Đ ký kết hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản cùng với M2 số: 80/20/HĐĐG-MK. Công ty ban hành Quy chế đấu giá tài sản và Thông báo đấu giá tài sản đưa tài sản ra đấu giá, công ty đã tiến hành đăng báo S1 02 kỳ (ngày 18/11 và 23/11/2020) theo quy định tại Điều 57 Luật Đấu giá tài sản và tiến hành niêm yết tài sản đấu giá theo đúng quy định tại Điều 35 Luật Đấu giá tài sản. Từ ngày niêm yết việc đấu giá đến hết thời hạn đăng ký tham gia đấu giá là lúc 17 giờ ngày 07/12/2020 vẫn không có khách hàng đăng ký tham gia đấu giá, vì vậy Công ty đã ra Thông báo số 393/20/TB-MK ngày 08/12/2020 thông báo đến MBAMC – T về việc đấu giá không thành.
  • Ngày 09/12/2020, M2 gửi Thông báo số: 1383/TB-MBAMC- TNB về việc điều chỉnh giá bán khởi điểm tài sản bảo đảm của ông Huỳnh Minh H và bà Nguyễn Thị M lần thứ 2, trong đó T1 690 có giá khởi điểm là 1.890.000.000 đồng, thửa 689, 693 có giá khởi điểm là 1.179.000.000 đồng. Công ty đã tiến hành ban hành quy chế, ra thông báo đấu giá tài sản và niêm yết tài sản đấu giá theo đúng quy định tại Điều 35, Điều 57 Luật Đấu giá tài sản. Từ ngày niêm yết việc đấu giá đến hết thời hạn đăng ký tham gia đấu giá là lúc 17 giờ ngày 30/12/2020 vẫn không có khách hàng đăng ký tham gia đấu giá, vì vậy Công ty đã ra Thông báo số 436/20/TB-MK ngày 31/12/2020 thông báo đến MBAMC – T về việc đấu giá không thành lần 2.
  • Ngày 31/12/2020, M2 gửi Thông báo số: 1435/TB-MBAMC. TNB về việc điều chỉnh giá bán khởi điểm tài sản bảo đảm của ông Huỳnh Minh H và bà Nguyễn Thị M lần thứ 3, trong đó T1 690 có giá khởi điểm là 1.701.000.000 đồng, các thửa 689, 693 có giá khởi điểm là 1.061.000.000 đồng (M2 đề nghị Công ty Đ triển khai đấu giá theo thủ tục rút gọn). Công ty đã tiến hành ban hành quy chế và ra thông báo đấu giá tài sản và niêm yết tài sản đấu giá theo đúng quy định tại Điều 35, Điều 53, Điều 57 Luật Đấu giá tài sản. Từ ngày niêm yết việc đấu giá đến hết thời hạn đăng ký tham gia đấu giá là lúc 17 giờ ngày 12/01/2021 vẫn không có khách hàng đăng ký tham gia đấu giá, vì vậy Công ty đã ra Thông báo số 447/21/TB-MK lần 3. ngày 13/01/2021 thông báo đến MBAMC – T về việc đấu giá không thành công.
  • Đến ngày 09/02/2022, M2 gửi Thông báo số: 39/TB- MBAMC-TNB về việc điều chỉnh giá bán khởi điểm tài sản bảo đảm của ông Huỳnh Minh H và bà Nguyễn Thị M lần thứ 4, trong đó T1 690 có giá khởi điểm là 1.566.152.599 đồng, thửa 689, 693 có giá khởi điểm là 977.093.440 đồng. Ngày 11/02/2022 Công ty Đ tiến hành ban hành quy chế và ra Thông báo đấu giá tài sản với giá khởi điểm là 2.543.246.039 đồng. Công ty đã tiến hành ban hành quy chế, ra thông báo đấu giá tài sản và niêm yết tài sản đấu giá theo đúng quy định tại Điều 35, Điều 53, Điều 57 Luật Đấu giá tài sản. Đến hết thời hạn đăng ký tham gia đấu giá lúc 17 giờ ngày 18/02/2022 có 01 (một) khách hàng đăng ký tham gia đấu giá là: Bà Huỳnh Thị Cẩm H1, sinh ngày 01/01/1973, địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  • Ngày 21/02/2022, Công ty Đ đã ban hành thông báo số 856/22/TB-MK đến MBAMC – T về việc thông báo có 01 (một) khách hàng đăng ký tham gia đấu giá. Cùng ngày, MBAMC – T đã gửi Công văn số 73/CV- MBAMC-TNB về việc đồng ý bán đấu giá tài sản trên cho một khách hàng đăng ký tham gia đấu giá. Sau đó, Công ty Đ đã căn cứ theo quy định tại Điều 49 Luật Đấu giá tài sản, tiến hành tổ chức bán cho 01 khách hàng đăng ký tham gia đấu giá là bà Huỳnh Thị Cẩm H1 với giá mua tài sản không thấp hơn giá khởi điểm.
  • Vào lúc 14 giờ 00 phút, ngày 21 tháng 02 năm 2022 tại Nhà số H, đường số A, KDC T, phường B, TP ., tỉnh Sóc Trăng Công ty Đ đã tổ chức thành công cuộc đấu giá tài sản với giá mua tài sản của bà Huỳnh Thị Cẩm H1 là 2.543.300.000 đồng và lập biên bản đấu giá tài sản cho các bên cùng ký kết. Cùng ngày, Công ty Đ đã ban hành Thông báo số 857/21/TB-MK về việc kết quả trúng đấu giá. Cùng thời gian trên MBAMC - T, bà Huỳnh Thị Cẩm H1Công ty Đ đã thống nhất ký kết Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá số: 80/22/HĐMB-MK.
  • Ngày 16/3/2022 tại Trụ sở Công ty Đ, Công ty Đ và MBAMC - hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản Tây Nam B đã ký biên bản thanh lý hợp đồng số: 80/22/BBTL-MK về việc chấm dứt.

[9] Như vậy, chứng minh việc đấu giá tài sản của Công ty Đ đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định tại Chương II của Luật Đấu giá tài sản nên Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá số 80/22/HĐMB-MK ngày 21/02/2022 được chứng thực ngày 22/02/2022 giữa công ty TNHH ( và Khai thác tài sản của Ngân hàng TMCP ( và bà Huỳnh Thị Cẩm H1, bao gồm: Thửa đất số 690, tờ bản đồ số 03, diện tích 2.057m² theo giấy chứng nhận QSD đất số AC 708973 do UBND huyện V cấp ngày 13/7/2005 cho ông Phan Chí D và bà Huỳnh Thị L, chuyển nhượng cho ông Huỳnh Minh H và bà Huỳnh Thị M1 ngày 20/12/2018; Thửa đất số 689, tờ bản đồ số 03, diện tích 916,3m² theo giấy chứng nhận QSD đất số AK 917362 do UBND huyện V cấp ngày 11/12/2007 cho bà Kha Thị Bạch Y, chuyển nhượng cho ông Huỳnh Minh H và bà Huỳnh Thị M1 ngày 21/02/2019; Thửa đất số 693, tờ bản đồ số 03, diện tích 172.9m² theo giấy chứng nhận QSD đất số AC 8730313 do UBND huyện V cấp ngày 07/01/2008 cho bà Kha Thị Bạch Y, chuyển nhượng cho ông Huỳnh Minh H và bà Huỳnh Thị M1 ngày 21/02/2019 có hiệu lực.

[10] Xét việc mua tài sản bán đấu giá của bà Huỳnh Thị Cẩm H1: Bà Huỳnh Thị Cẩm H1 tham gia mua tài sản đấu giá là công khai, đúng theo quy định quy định của Luật Đấu giá tài sản. Tài sản là 03 quyền sử dụng đất tại các thửa 690, 689, 693 nêu trên bà Huỳnh Thị Cẩm H1 mua trúng đấu giá là hợp pháp, ngay tình, đồng thời hiện nay bà Huỳnh Thị Cẩm H1 đã nhận được nhận bàn giao 03 quyền sử dụng đất nêu trên nên thuộc trường hợp kết quả đấu giá tài sản trên và bà được công nhận và bà Huỳnh Thị Cẩm H1 được quyền liên hệ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo điểm c khoản 1 Điều 48 Luật Đấu giá tài sản.

Điều 48. Quyền và nghĩa vụ của người trúng đấu giá

  1. Người trúng đấu giá có các quyền sau đây:
  1. Yêu cầu người có tài sản đấu giá ký hợp đồng mua bán tài sản đấu giá hoặc trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt kết quả đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật;
  2. Được nhận tài sản đấu giá, có quyền sở hữu đối với tài sản đấu giá theo quy định của pháp luật;
  3. Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản đấu giá đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng theo quy định của pháp luật;
  4. Các quyền khác theo thỏa thuận trong hợp đồng mua bán tài sản đấu giá và theo quy định của pháp luật.

Tại khoản 2 Điều 7 Luật Đấu giá tài sản quy định: “Điều 7. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người có tài sản đấu giá, người tham gia đấu giá, người trúng đấu giá, người mua được tài sản đấu giá ngay tình

1. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm bảo đảm việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của người có tài sản đấu giá, người tham gia đấu giá, người trúng đấu giá, người mua được tài sản đấu giá ngay tình.

2. Trường hợp có người thứ ba tranh chấp về quyền sở hữu đối với tài sản đấu giá thì quyền sở hữu vẫn thuộc về người mua được tài sản đấu giá ngay tình.

[11] Từ cơ sở phân tích nêu trên kháng cáo của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần ( và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty Đ đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng công nhận kết quả đấu giá tài sản và công nhận Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá giữa công ty TNHH ( và khai thác tài sản của Ngân hàng TMCP ( và bà Huỳnh Thị Cẩm H1 là có căn cứ chấp nhận. Đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại Tòa đề nghị Tòa án sửa bản án sơ thẩm theo hướng công nhận hợp đồng bán đấu giá tài sản nêu trên có hiệu lực là có căn cứ chấp nhận.

[12] Do bản án sơ thẩm bị sửa nên án phí dân sự sơ thẩm được sửa lại cho phù hợp, cụ thể:

  • Bị đơn ông Huỳnh Minh H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005408 ngày 16/8/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng. Ông Huỳnh Minh H đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
  • Nguyên đơn Ngân hàng TMCP ( không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu được chấp nhận. Ngân hàng TMCP ( được nhận lại tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 45.148.000 đồng theo biên lai thu số 0009795 ngày 08/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.

[13] Án phí dân sự phúc thẩm: Ngân hàng TMCP (Công ty Đ không phải chịu và được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 289, khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 309, khoản 2 Điều 148 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Căn cứ khoản 3 Điều 18; khoản 5 điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của Ngân hàng TMCP ( đối với yêu cầu ông Huỳnh Minh H và bà Nguyễn Thị M thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng tiền nợ gốc và nợ lãi tạm tính đến ngày 30/8/2023 số tiền 680.470.340 đồng (sáu trăm tám mươi triệu bốn trăm bảy mươi ngàn ba trăm bốn mươi đồng) cụ thể: tiền nợ gốc là 02 (hai) đồng và; nợ lãi quá hạn 561.180.322 đồng (năm trăm sáu mươi mốt triệu một trăm tám mươi ngàn ba trăm hai mươi hai đồng), nợ lãi chậm trả 119.290.016 đồng (một trăm mười chin triệu hai trăm chin mươi ngàn không trăm mười sáu đồng).

Chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng TMCP (Công ty Đ. Sửa Bản án Dân sự sơ thẩm số 122/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng như sau:

Tuyên xử:

Căn cứ Điều 299, 300, 301, 306, 323, 451 Bộ luật Dân sự năm 2015

Căn cứ Điều 33, 35, 44, 48, 49, 53, 57 Luật Đấu giá tài sản.

Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

  1. Công nhận Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá số 80/22/HĐMB-MK ngày 21/02/2022 được chứng thực ngày 22/02/2022 giữa công ty TNHH ( và khai thác tài sản của Ngân hàng TMCP ( và bà Huỳnh Thị Cẩm H1, đối với: Thửa đất số 690, tờ bản đồ số 03, diện tích 2.057m² theo giấy chứng nhận QSD đất số AC 708973 do UBND huyện V cấp ngày 13/7/2005 cho ông Phan Chí D và bà Huỳnh Thị L, chuyển nhượng cho ông Huỳnh Minh H và bà Nguyễn Thị M ngày 20/12/2018; Thửa đất số 689, tờ bản đồ số 03, diện tích 916,3m² theo giấy chứng nhận QSD đất số AK 917362 do UBND huyện V cấp ngày 11/12/2007 cho bà Kha Thị Bạch Y, chuyển nhượng cho ông Huỳnh Minh H và bà Nguyễn Thị M ngày 21/02/2019; Thửa đất số 693, tờ bản đồ số 03, diện tích 172.9m² theo giấy chứng nhận QSD đất số AC 8730313 do UBND huyện V cấp ngày 07/01/2008 cho bà Kha Thị Bạch Y, chuyển nhượng cho ông Huỳnh Minh H và bà Nguyễn Thị M ngày 21/02/2019 có hiệu lực pháp luật.

Ngân hàng TMCP ( có trách nhiệm bàn giao toàn bộ giấy tờ có liên quan đến các tài sản bán đấu giá cho bà Huỳnh Thị Cẩm H1. Bà Huỳnh Thị Cẩm H1 được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất trúng đấu giá nêu trên.

  1. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Huỳnh Minh H về việc hủy kết quả đấu giá tài sản là các quyền sử dụng đất theo thông báo số 44/TB-MBAMC-TNB ngày 11/02/2022 của Công ty ( và khai thác nợ thuộc Ngân hàng TMCP (, theo Công văn số 138/CV-MBAMC-TNB ngày 15/3/2022 của Công ty quản lý và khai thác nợ thuộc Ngân hàng TMCP ( và hủy kết quả bán đấu giá tài sản tại Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá số 80/22/HĐMB-MK ngày 21/02/2022 được chứng thực ngày 22/02/2022 giữa công ty TNHH ( và Khai thác tài sản của Ngân hàng TMCP ( và bà Huỳnh Thị Cẩm H1, bao gồm: Thửa đất số 690, tờ bản đồ số 03, diện tích 2.057m² theo giấy chứng nhận QSD đất số AC 708973 do UBND huyện V cấp ngày 13/7/2005 cho ông Phan Chí D và bà Huỳnh Thị L, chuyển nhượng cho ông Huỳnh Minh H và bà Nguyễn Thị M ngày 20/12/2018; Thửa đất số 689, tờ bản đồ số 03, diện tích 916,3m² theo giấy chứng nhận QSD đất số AK 917362 do UBND huyện V cấp ngày 11/12/2007 cho bà Kha Thị Bạch Y, chuyển nhượng cho ông Huỳnh Minh H và bà Nguyễn Thị M ngày 21/02/2019; Thửa đất số 693, tờ bản đồ số 03, diện tích 172.9m² theo giấy chứng nhận QSD đất số AC 8730313 do UBND huyện V cấp ngày 07/01/2008 cho bà Kha Thị Bạch Y, chuyển nhượng cho ông Huỳnh Minh H và bà Nguyễn Thị M ngày 21/02/2019.
  2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP ( (MB) đối với yêu cầu khởi kiện tại mục 3 phần II của đơn yêu cầu khởi kiện ngày 07/7/2021, không yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm đảm thế chấp là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất được nêu tại mục 2 phần I (về tài sản bảo đảm) của đơn khởi kiện và yêu cầu khởi kiện tại mục 1 phần II của đơn yêu cầu khởi kiện ngày 07/7/2021, giảm số tiền không yêu cầu ông Huỳnh Minh H, bà Nguyễn Thị M thanh toán các khoản nợ tạm tính đến ngày 18/6/2021 với số tiền 2.914.805.705 đồng (hai tỷ chín trăm mười bốn triệu tám trăm lẻ năm ngàn bảy trăm lẻ năm đồng).
  3. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP ( yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Huỳnh Minh H và bà Nguyễn Thị M thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền lãi tạm tính đến hết ngày 30/8/2023 với số tiền 680.470.340 đồng (sáu trăm tám mươi triệu bốn trăm bảy mươi ngàn ba trăm bốn mươi đồng) cụ thể: tiền nợ gốc là 02 (hai) đồng và; nợ lãi quá hạn 561.180.322 đồng (năm trăm sáu mươi mốt triệu một trăm tám mươi ngàn ba trăm hai mươi hai đồng), nợ lãi chậm trả 119.290.016 đồng (một trăm mười chin triệu hai trăm chin mươi ngàn không trăm mười sáu đồng) và yêu cầu tính lãi phát sinh theo lãi suất thỏa

thuận theo hợp đồng tín dụng số 829457.19.670.4833924.TD ngày 24/01/2019 và hợp đồng tín dụng số 838327.19.670.4833924.TD ngày 27/02/2021 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP ( tách thành vụ kiện khác và dành quyền cho đương sự khởi kiện trong vụ án khác theo thủ tục chung.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • Bị đơn ông Huỳnh Minh H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0005408 ngày 16/8/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng. Ông Huỳnh Minh H đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
    • Nguyên đơn Ngân hàng TMCP ( không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu được chấp nhận. Ngân hàng TMCP ( được nhận lại tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 45.148.000 đồng (bốn mươi lăm triệu một trăm bốn mươi tám ngàn đồng) theo biên lai thu số 0009795 ngày 08/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.
  2. Án phí dân sự phúc thẩm:
    • Ngân hàng TMCP ( không phải chịu và được nhận lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngan đồng) theo Biên lai thu tiền số 0010348 ngày 17/10/2023 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng
    • Công ty Đ không phải chịu và được nhận lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngan đồng) theo Biên lai thu tiền số 0010361 ngày 17/10/2023 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.
  3. Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
  4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • Các đương sự;
  • VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên;
  • Chi Cục THADS huyện Mỹ Xuyên;
  • Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Tăng Thị Thúy Nga

20

21

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2024/DS-PT ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng và yêu cầu hủy kết quả đấu giá

  • Số bản án: 105/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng và yêu cầu hủy kết quả đấu giá
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền vay theo hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger